Thiếu Lâm Lục
hợp quyền đơn giản, không hoa mỹ, chú
trọng thực chiến, rất có giá trị về
mặt tự vệ pḥng thân. Lục hợp quyền
có những đặc điểm như sau:
1) Kết cấu bài
quyền khá chặt chẽ
Thiếu Lâm Lục hợp quyền từ khởi
thế đến thu thế có bố cục hết
sức hợp lư, cấu tứ chặt chẽ,
tiết tấu rơ ràng.
2) Chiêu pháp
mạnh mẽ và liên tục
Trong bài Lục hợp quyền, phàm là xuất chiêu thường
khá mạnh mẽ và thực hiện một cách liên
tục, công tắc tất phá. Ví dụ như khi
xuất quyền th́ kèm theo đá cước hoặc
công tiếp cùi chỏ khiến đối phương
không kịp pḥng bị, yêu cầu đ̣n đánh
phải mạnh và dứt khoát, pháp này gọi là công
mạnh. Ngoài ra c̣n có liên hoàn cước, liên hoàn chùy
làm cho đối phương khó t́m ra cách chống
đỡ, pháp này gọi là liên (tục).
3) Công thủ
chặt chẽ, chú trọng thực chiến
Mỗi thế trong Lục hợp quyền đều hàm
chứa hai chiêu, một chiêu là công c̣n chiêu kia là
thủ, vừa có thể tấn công đối
thủ mà vừa có thể pḥng bị.
4) Bộ pháp
đơn giản, tiến thoái tự nhiên
Bộ pháp của Lục hợp quyền từ đầu
chí cuối hết sức đơn giản, đa
phần là 3 loại bộ pháp Cung bộ, Hư bộ
và Mă bộ. Cung bộ chủ yếu được
sử dụng để tấn công trực diện
đối thủ , như : xung quyền, thôi quyền,
đá, phi cước…Mă bộ được sử
dụng để đỡ đ̣n, công bên cạnh
hoặc huưch phía sau đối thủ. Hư bộ
sử dụng để thoái (lùi), tránh, né đ̣n
của đối phương, được coi là
bộ pháp quá độ tạm thời. Ba loại
bộ pháp trên giản đơn, dễ luyện,
tiến thoái khá tự nhiên và nhịp nhàng.
5) Dương đông
kích tây, dụ trên đánh dưới
Xét về mặt chiến đấu, Lục hợp
quyền chủ yếu dùng chiến thuật “dương
đông kích tây”, “dụ trên đánh dưới”.
Ví dụ như “Lăng tử đàn cầu” , “Tiên
nhân chích gia” trong 3 lộ quyền th́ đều là
xuất thủ đánh vào mặt đối phương
nhưng thực t́nh đó là giả, c̣n cước
đá phía dưới mới là thật. Lại ví như
“ Hồng hầu tốc thân” lại giả làm cho
đối phương ngộ nhận là ḿnh tháo
chạy, nhưng thực tế là ta lại nhanh chóng
phản công làm đối phương bị bất
ngờ, không kịp chống đỡ.
6) Cận công đối
phương
Trong lộ thứ nhất và thứ ba Lục hợp
quyền, đa phần là tấn công đối
thủ ở khoảng cách gần, cố gắng
tiến sát đối thủ, đồng thời
cầm nă các bộ vị yếu hại của đối
thủ, tiếp theo là đánh hoặc phá hoại công
năng của bộ vị đó. Như thế không
những luyện thủ, túc, nhăn một cách hệ
thống mà c̣n nghiệm chứng cách sử dụng
của từng chiêu thức đó, nâng cao tŕnh độ
kỹ thuật thực chiến. Ví dụ như các
thế “bản khiên”, “tiến trừu” của
lộ thứ nhất và “ tiểu quỷ thôi ma”,
“xảo thi âm dương” trong lộ thứ ba đều
là những minh chứng rơ ràng về đặc điểm
này.
7) Linh hoạt đa
biến
Trong lúc luyện Lục hợp quyền, trước
tiên mắt phải linh động, nhận biết
kỹ pháp trước, sau đó thể hiện trí dũng,
nếu không sẽ khó giành thắng lợi. Ví dụ
khi A dùng thế ” Song bôi tống khách” tấn công
B, lập tức B biết được đ̣n công này
là rất mạnh nên nhanh chóng xoay thân và dùng thế
“ Hồng hầu tốc thân” để tránh đ̣n.
 |
 |
| Dự
bị thế |
Ngũ
tử đăng khoa |
 |
 |
| H3 |
H4 |
 |
 |
| H5 |
H6 |
 |
 |
| Hổ
bao đầu |
Tam
diêu thủ |
 |
 |
| H9 |
H10 |
 |
 |
| Thôi
thân thích âm |
H12 |
 |
 |
| Chuyển
thân thái cước |
Phản
chưởng soái thủ |
 |
 |
| Thượng
bộ thông thiên pháo |
H16 |
 |
 |
| H17 |
Áp
thủ khiêu thủ |
 |
 |
| Măn
đỗ thống |
H20 |
 |
 |
| Bàn
khiên |
Túc
thân |
 |
 |
| Tam
kháng thủ |
H24 |
 |
 |
| Thương
thủ |
H26 |
 |
|
| H27 |
|