|
THIỀN
TÔNG
Danh
từ Thiền Tông
Trong
đạo Phật, dù là Nguyên thủy hay Đại
thừa cũng đều có áp dụng pháp Thiền v́
đó là một đặc tính quan trọng của
đạo Phật. Thiền Tông tuy cũng áp dụng
pháp Thiền như các tông khác trong đạo
Phật, nhưng đă phát triển theo một
đường lối riêng nên trở thành một tông
phái riêng biệt trong 10 tông phái của đạo
Phật là: Câu Xá Tông, Thành Thiệt Tông, Luật
Tông,
Pháp Tướng Tông, Tam Luận Tông, Hoa Nghiêm Tông, Thiên
Thai Tông, Thiền Tông, Mật Tông, và Tịnh Độ
Tông (theo: Phật giáo khái luận). Có khi Thiền Tông
c̣n được gọi bằng những tên khác như:
Thiền Như Lai Tối Thượng, Thiền Như
Lai Thanh Tịnh, Thiền Tổ Sư, Thiền Đốn
Ngộ, Thiền Đạt Ma, Thiền Tự Tánh Thanh
Tịnh, Tâm Tông ... Đặc điểm của
Thiền Tông là: "Thiền Tông lấy phương
diện hoạt động hiện thực làm chủ
nghĩa để phát khởi. Đó là đặc
sắc rất lớn của Đạt Ma Thiền, đă
từ các Thiền phái làm nổi bật một
sắc thái riêng để rồi không bao lâu đă
trở thành một phái độc lập". (Trích:
Đại thừa Phật giáo Tư tưởng luận).
Để chỉ về Thiền Tông th́ các tác giả
Trung Hoa dùng danh từ "Chan" (phiên âm từ
chữ Hán), các sách bằng Anh ngữ dùng danh từ
Zen (tiếng Nhật), như vậy rất rơ ràng và
phân biệt được đối với các pháp
Thiền khác. Nếu chúng ta dùng danh từ Zen để
chỉ Thiền Tông th́ tránh được những
lẫn lộn với những pháp Thiền khác.
Sơ
lược lịch sử Thiền Tông
Thiền
Tông được khởi đầu từ hội
Linh Sơn, khi đức Phật truyền cho ngài Ma Ha
Ca Diếp: "Ta có Chánh Pháp Nhăn Tạng, Niết Bàn
Diệu Tâm, pháp môn mầu nhiệm, chẳng lập văn
tự, ngoài giáo lư truyền riêng, nay giao phó cho ngươi".
Tổ Ma Ha Ca Diếp là vị Tổ thứ nhất
Thiền Tông tại Ấn Độ. Cho đến
Tổ thứ 28 là Tổ Bồ Đề Đạt Ma
(440-529) (Phạn: Bodhidharma, Nhật: Bodai Daruma) th́ ngài
qua Trung Hoa để truyền đạo nên được
coi là Tổ thứ nhất tại Trung Hoa. Tổ
Bồ Đề Đạt Ma truyền y, bát cho đến
Tổ Huệ Năng (638-713), được coi là
Tổ thứ 6 tại Trung Hoa, hoặc Tổ thứ 33
của Thiền Tông. Việc truyền y, bát tới
tổ Huệ Năng th́ chấm dứt, thể theo
lời sấm kư của Tổ Bồ Đề Đạt
Ma lưu lại. Sau đó các Tổ kế tiếp
truyền bá Thiền Tông chẳng những ở Trung
Hoa mà c̣n truyền rộng qua các nước ở Á
châu như Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam.
Thiền Tông đă được truyền qua Trung Hoa
từ cuối thế kỷ thứ 5 và phát triển
mạnh mẽ cho đến đầu thế kỷ
thứ 8 với Lục Tổ Huệ Năng. Tại
Trung Hoa, Thiền Tông cực thịnh trong khoảng
thế kỷ thứ 8 cho đến thế kỷ
thứ 10. Theo Thiền sư Koun Yamada th́ từ sau
thế kỷ thứ 14 Thiền Tông tại Trung Hoa coi
như bắt đầu suy giảm, v́ "các
Thiền tăng chỉ chú ư vào kinh kệ và niệm
danh Phật" (trích: Gateless Gate). Cũng theo cuốn
"Original Teachings of Ch'an Buddhism" của Chang Chung
Yuan th́ Thiền Tông tại Trung Hoa coi như rất
yếu kể từ thế kỷ thứ 13, sau đó
nhờ Nhật Bản mà Thiền Tông phát triển
mạnh cho đến ngày nay. Có người ví
hạt giống Thiền Tông được mang từ
Ấn Độ qua Trung Hoa mọc thành cây tốt đẹp,
nhưng cây đó đă nở hoa và sanh trái tại
Nhật. Ảnh hưởng của Zen trong xă hội
Nhật rất là rơ rệt và sâu rộng, như là
về hội họa, thơ phú, trà đạo, vơ
thuật ... Sir George Sansom có viết trong cuốn
"Japan, A Short Cultural History": " Ảnh hưởng
của Zen đối với Nhật Bản thật là
tế nhị và thâm nhập đến độ có
thể coi là bản thể của nền văn hóa
Nhật. Muốn diễn tả về ảnh hưởng
đó về tư tưởng và cảm tính, về
nghệ thuật, văn chương và đạo
đức, th́ phải viết rất công phu về
một đề tài khó khăn nhất và hấp
dẫn nhất ..." (trích Zen and Japanese culture).(trang
346)
Đường
lối Thiền Tông
Đặc
điểm của Thiền Tông có thể được
thâu gọn trong bốn câu của Tổ Bồ Đề
Đạt Ma: "Bất lập văn tự, Giáo
ngoại biệt truyền, Trực chỉ nhân tâm,
Kiến tánh thành Phật." (Chẳng
lập văn tự, Truyền ngoài giáo lư, Chỉ
thẳng tâm người, Thấy tánh thành Phật). Đường
lối tu hành của Thiền Tông rất là độc
đáo, tuy thật là đơn giản nhưng cũng
khó hiểu. Đơn giản là v́ phương pháp tu
chỉ là "thấy Tính". Chính v́ đơn
giản nên gây nhiều điều khó hiểu. Chúng
ta thử làm quen thẳng với những điều
khó hiểu của Thiền Tông. Câu chuyện nổi
tiếng về Tổ Bồ Đề Đạt Ma :
"Tăng Thần Quang hỏi Tổ Bồ Đề Đạt
Ma:
- Tâm con chưa an, xin thầy dạy pháp an tâm.
- Ngươi đem tâm ra đây, ta an cho.
- Con t́m tâm không được.
- Ta đă an tâm cho ngươi rồi." (trích:
Tổ Thiền Tông) Ngay đó Thần Quang được
khế ngộ. Sau này Tổ đổi tên ngài
Thần Quang là Huệ Khả, tức là vị Tổ
thứ hai tại Trung Hoa. Trong cuốn "Trung Hoa Chư
Thiền Đức Hành Trạng" chúng ta gặp
rất nhiều những lời đối đáp tương
tự cho thấy phương pháp chỉ dậy
của Thiền Tông rất là khó hiểu, các Tổ
thường không có giảng giải chi tiết
nhiều, lắm khi lại c̣n không nói một câu mà
lại dùng tiếng hét, hoặc những hành động
như giơ cây phất trần, giơ một ngón
tay,
dương cung, bóp mũi ...
Đó
chính là áp dụng câu "bất lập văn tự",
tránh những lời nói nhiều, đôi khi cũng
phải dùng văn tự để giáo hóa nhưng
mục đích vẫn là làm cho người học
hỏi không bị vướng mắc vào văn
tự mà phải quay vào chính ḿnh để t́m cho ra
chân lư. Cho nên khi tổ Huệ Khả xin tổ Bồ
Đề Đạt Ma chỉ cho phương pháp "an tâm"
th́ tổ chỉ nói: " Ngươi đem tâm ra
đây, ta an cho" , thay v́ giảng rơ ràng thế
nào là tâm, tu hành thế nào để an được
tâm đó, đây cũng là áp dụng câu "giáo
ngoại biệt truyền". Câu đó khiến cho
tổ Huệ Khả phải đi t́m coi cái tâm đó
ra sao, nó từ đâu mà có, biến chuyển ra sao và
khi đă thấy rằng tâm đó chỉ là cái tâm
vọng, huyễn hóa, không có một thực thể, nên
mới có thể trả lời rằng: "Con t́m
tâm không được". Chính khi đă hiểu
được thực tánh của cái tâm vọng
đó là đă thấy được phương pháp
an tâm rồi.
Return
|