WELCOME TO VIETNAMESE SHAOLIN KIENANDO KUNGFU

           

Click here to learn more about shaolin kungfu     

  INTRODUCING     HOME      CONTACT US  LINKS CHI KUNG    ZEN   TAI CHI CHUAN    SHAOLIN  KUNGFU    STYLES   VIETNAMESE KUNGFU HISTORY   SHAOLIN KUNGFU FORMS 
 

 

 

 

Kienando History
Kienando Goal
Kienando System
Enroll&Registration
New class
Class at CSUN
Corbin studio
Schedule
New books
Self-defense
Meditation
Performing
Kienando ca
Kienando forms
Practicing
Styles
Links
Home
Access to website
Free Hit Counter
emailed.gif (14893 bytes)

 

Guest book  

 

  KIENANDO-FORMS 


  
Luong Nghi Kiem

Thanh Long Dao
  Tuc Quyen
 Hong Hoa Quyen
 
 Le Hoa Thuong
    Cuong Dao

 
  Phuc Ho Quyen

   Loi Vu Quyen

 Board breaking



 

 

 

 

 

Thiếu Lâm thập bát ban binh khí
Bao gồm các bài viết:
 - Binh khí ngắn
 - Nhuyễn binh khí
 - Song binh khí
 - Binh khí dài
 - Xạ kích
 - Ám khí

 

Thiếu Lâm Phái được xem là lãnh tụ của các môn phái võ thuật Trung Hoa. Nó nổi tiếng không những về bề dày lịch sử, mà còn nổi tiếng về nội dung phong phú, đa dạng, được coi là cái nôi của nhiều môn võ thuật. Quyền thuật Thiếu Lâm khá phát triển và thịnh hành vào đời nhà Minh và đầu đời nhà Thanh. Vào thời vua Vạn Lịch nhà Minh, có võ tăng Hồng Kỷ, Hồng Chuyên nổi tiếng về sử dụng côn và tiên (roi). Nhà võ thuật Trình Xung Đẩu theo học hai nhà sư này, sau đó viết cuốn “ Thiếu Lâm Côn Pháp Thiền Tông” và “ Thiếu Lâm Tiên Pháp Thiền Tông”. Nhưng đó chỉ là hai trong số ít những binh khí Thiếu Lâm. Nói đến Thập Bát Ban Binh Khí thì trong lịch sử cũng có nhiều khái niệm, thống kê khác nhau. Riêng Thập Bát Ban Binh Khí của Thiếu Lâm Phái thì thường gồm những loại sau đây:

         1)      Binh khí ngắn: Đao, Kiếm, Tiên, Phủ, Đăng Bài.

         2)      Binh khí dài: Thương, Côn, Kích, Liêm, Trảo, Quải, Câu, Chùy, Thảng, Ba, Xoa, Giản.

         3)      Xạ kích: Cung tên.

 

Nhưng trên thực tế thì không chỉ gói gọn trong 18 loại binh khí trên mà có hàng chục loại thuộc 18 loại trên (Tham khảo mục “Binh khí cổ đại”).

             

Tại mục: Binh khí cổ đại
Binh khí ngắn

 Giản dài 2,5 thước. Cán giản hình trụ, thân giản hình vuông, bên trong có rãnh lõm vào.            Hay còn gọi là Thuẫn. Bàng Bài làm bằng gỗ. Kỵ binh hay dùng loại hình tròn, còn bộ binh dùng loại dài. Là một loại binh khí ngắn. Phần đầu cán chúc xuống có hoành quải hình chữ Bốc nên gọi là “ Bốc Tự Quải.        Là loại binh khí được cấu tạo bởi chùy và câu. Phía trước là chùy sắt hình tròn hoặc hình lục giác, ở dưới có cán gỗ. Đỉnh chùy và đầu cán đều có móc câu. Khi sử dụng thì chùy đánh, câu đâm. Có thể sử dụng cùng với kiếm, đao, lực công kích khá mạnh.
Ao diện giản Bàng bài Bốc tự quải Câu liêm
 Là một dạng thuộc Đại Hoàn Đao, thường được sử dụng trong bộ chiến. Hình dạng giống như đơn đao bình thường, nhưng thân đao khá dày. Sống đao có 9 chiếc vòng sắt nhỏ, mũi đao phẳng, không hướng thẳng ra phía trước. Chuôi đao hơi cong và có lắp thêm đao hoàn (khuyên tròn).  Thường được sử dụng trong bộ chiến. Sống đao khá dày, lưỡi sắc, mũi đao bằng và không chĩa thẳng ra trước. Chuôi đao thẳng và có đao hoàn. Hình tròn, có phần khung làm bằng mây và dây mây bện lại. Trọng lượng Đăng Bài do vậy rất nhẹ, đồng thời rất chắc và dai.  Người cầm trượng căn cứ theo tỷ lệ độ dài của trượng mà nắm. Thông thường là 12 nắm dọc và 2 nắm ngang. Đạt Ma Trượng có lịch sử từ lâu đời, nó hình thành nên Taolu dựa theo các quy luật công thủ, tiến thoái, hư thực, cương nhu. Tổng cộng có 8 đường, mỗi đường gồm 6 trượng, cộng lại có 48 trượng. Luyện tập lâu ngày không những có tác dụng điều khí, dưỡng huyết, thư giãn gân cốt, kiện thận, sinh cơ nhục mà còn có thể tăng cường thể chất cho cơ thể.          
Cửu hoàn đao Đại khảm đao Đằng bài Đạt ma trượng
 Là loại đao được các tăng nhân sử dụng để sinh hoạt hàng ngày khi xuất hành (thời cổ), không dùng để sát sinh cho nên gọi là Giới Đao. Thân giản dài khoảng 4 thước, hình trụ, làm bằng sắt. Dài khoảng 1,5 thước, đầu liêm dài 5 thốn, phần câu có hình chân gà,  cựa gà nên gọi là Kê Trảo Liêm. Thân giản là một thanh côn gỗ tròn, đầu trước nhỏ, đầu sau thô. Thân dài 2 thước, trên có gài 4 hàng đinh nhọn, mỗi hàng có từ 4-6 chiếc đinh, đinh hình tam giác.
Giới đao Hỗn viên giản Kê trảo liêm Lang nha giản
Hình dạng lưỡi đao giống như hình lá liễu nên gọi là Liễu Diệp Đao h Còn có tên là “ Ban Mã Câu”, hình dáng tựa như sừng hươu sao. Làm bằng sắt, có nhiều gai đâm ra. Thuộc loại ngạnh tiên (roi cứng). Roi dài 4 thước, cán roi giống như chuôi kiếm. Thân trước của roi phẳng mịn, phần thân sau thì thô, tổng cộng có 13 đốt, hình dáng như bảo tháp. Thân roi hình vuông, giữa các đốt đều lộ ra khấc. Mũi roi nhọn, phần nối thân roi và cán roi có lắp hộ thủ. Trọng lượng roi khoảng 30 cân, hoàn toàn bằng sắt.
Liên hoàn đao Liễu diệp đao Lộc giác thích Lôi thần tiên
Danh kiếm thời cổ đại, còn có tên là Long Uyên Kiếm. Long Tuyền Kiếm có nguồn gốc từ huyện Tây Bình - Tỉnh Hà Nam- Trung Quốc. Là binh khí ngắn được sử dụng trong kỵ chiến. Mã đao có thân hẹp và hơi cong. Chuôi đao dài, có thể nắm bằng hai tay. Mã đao nhẹ, lưỡi sắc, uy lực khá lớn. Là một loại đoản đao, thời cổ có nguồn gốc từ Nhật Bản. lưỡi đao dài và hẹp, hai bên cạnh đều mài lưỡi sắc, trang trí đẹp mắt. Chuôi đao khá dài, có thể nắm bằng hai tay. Đao pháp tương đối đơn giản, nhà võ thuật Trung Quốc đời nhà Minh là Trình Tông Hy đã du nhập thành đao thuật Trung Hoa và phát triển nó trở nên thình hành như ngày nay. Lưỡi rộng 5 thốn, cán dài 5 thước và thô. Thường dùng trong cận chiến và đào địa đạo.
Long tuyền kiếm Mã đao Miêu đao Nga Mi phủ
Binh khí thời cổ được sử dụng trong bộ chiến. Nhạn Xí Đao còn có tên gọi khác là Kim Bối Đại Hoàn Đao. Sống đao dày, đầu đao rộng bản, trọng lượng nặng. Trên sống đao có từ 5 đến 9 lỗ, mỗi lỗ xỏ 1 khuyên bằng đồng, khi sử dụng khuyên sẽ đánh vào lưỡi đao gây tiếng vang, tiếng được ví như chim nhạn kêu. Hai đầu cán quải có hoành quải, hai hoành quải này song song với nhau qua thân quải thành hình chữ Nhị nên gọi là “ Nhị Tự Quải”. Liêm có hình chữ thập, hình tựa Phong Xa nên có tên là Phong Xa Liêm Phủ dài 8 thốn, lưỡi rộng 5 thốn, đuôi dày lưỡi mỏng . Cán phủ dài 2,5 thước. Đây là loại phủ ngắn nhất trong các loại đoản phủ.
Nhạn xỉ đao Nhị tự quải Phong xa liêm Phụng đầu phủ
Phương tiết tiên.Do thân roi và cán cầm cấu tạo nên. Thân roi có 11 đốt sắt, cán cũng được làm bằng sắt. Khi dùng có thể lấy thân roi đánh đối phương . Tần giá tiên.Roi dài 4 thước, thân bằng sắt. Hai đầu trên dưới đều có hình quả cầu tròn, không có sự khác biệt rõ ràng giữa cán roi và mũi roi. Thập tự quải.Cán làm bằng gỗ, dài khoảng 2,5 thước, phần cán ngang dài khoảng 8,3 thốn, phần đầu cán có lắp mâu. Phần hoành quải có một đầu hình gai nhọn, một đầu hình nguyệt nha sản, vì vậy có thể tấn công theo 3 mặt. Quải cấu tạo giống hình chữ Thập nên mang tên là “ Thập Tự Quải”. Thất tinh kiếm. Danh kiếm thời cổ đại. Phần thân kiếm sát với chuôi có trang trí hình Bắc Đẩu Thất Tinh Văn nên gọi là Thất Tinh Kiếm.
 Dài 1,2 thước, nan được làm bằng sắt, phiến diện bằng lụa hoặc vải bố.Đầu mỗi nan quạt được mài sắc và có tác dụng như một lưỡi dao. Loại phiến này khi thu lại thì giống như đoản côn, mở ra thì như đao, có thể chém, lia. Công năng đa dụng, kỹ kích cương nhu tương tế, công thủ tương đối chặt chẽ.  Thân dài 2,8 thước, trong đó đầu phủ dài 1,2 thước, lưỡi rộng 9 thốn. Toàn thân trượng dài 2,5 thước.
Thiết phiến tử Thiếu lâm bản phủ Thiếu lâm Đạt Ma trượng Thiếu lâm đơn đao
 Một trong những loại binh khí của Thiếu Lâm, dài khoảng 3 thước.   Dài 3 thước, hình dạng giống đầu con cá. Loại đao này thường được các võ tăng Thiếu Lâm sử dụng để luyện tập và phòng thân Do sư tăng, võ tăng Thiếu Lâm sử dụng để chắn cung tên. Cán phiến dài khoảng 9 thốn, thân phiến dài 1,2 thước, rộng 6 thốn.
Thiếu lâm đồng giản Thiếu lâm ngư đầu đao Thiếu lâm thuẫn bài Thiếu lâm thủy phiến

 Là một loại binh khí ngắn, phần trên và dưới cán quải đều có hoành quải (quải ngang).
Là một trong những loại binh khí ngắn, thuộc loại roi cứng (ngạnh tiên). Thân roi dài khoảng 3,5 thước, trong đó cán roi 5 thốn. Phía trước thân roi nhọn, sau thô, có 13 đốt sắt, mũi roi nhọn như dùi Thuộc ngạnh tiên, thân roi dài 4,5 thước, cán cầm hình tròn, phía trên có những cục sắt nhỏ hơi lồi ra để dễ cầm tay. Thân roi nhỏ, chia đốt giống thân cây tre trúc, làm bằng sắt. Bộ binh thường sử dụng, thường thấy loại có thân dài, có thể dùng để phòng thân. Bài thường kết hợp dùng cùng với Đao hoặc Kiếm.
Thượng hạ quải Thủy ma cương tiên Trúc tiết tiên Trường bài
Thân giản hình tứ lăng. Thân đao ngắn, chuôi có hộ thủ hình một lưỡi đao nhỏ, gọi là tử đao (đao con). Sống đao Mẫu đao (đao mẹ) thẳng, rộng ngang. Tử đao nhỏ, uốn lượn nửa vòng quanh chuôi đao. Là một loại Bàng Bài của bộ binh, phần đuôi rộng khoảng 1 thước, dài 5 thước. Phần trên bằng phẳng, đuôi lượn giống đuôi chim yến nên gọi là yến Vỹ Bài. Yến Vỹ Bài có phần giữa lồi ra, hai bên hơi thấp giống như lưng con cá.
Tự lăng giản Tử mẫu đao Uyên ương quải Yến vỹ bài
       
       
       
Nhuyễn binh khí
Được gửi vào 13:43 07/18/2005 (được xem 13 lần)

Trên đầu cây gậy ngắn nối với tiêu đầu bởi dây da, đầu gậy kia có mũi sắt nhọn.  Làm bằng sắt , tổng cộng có 9 đốt sắt nối liền với nhau. Đầu roi giống như mũi thương. Đoạn khuyên cuối cùng được nối với cán hình trụ.Hai đốt được nối với nhau bởi 1 khuyên sắt. Chiều dài mỗi đốt thường được tính ngang bằng với nắm tay quyền của người tập. Cửu Tiết Tiên dễ mang theo người, khi sử dụng thượng vận động theo hình tròn, vòng cung với phạm vi rộng, kết hợp với sự chuyển động nhịp nhàng của từng bộ vị cơ thể mà tăng cường tính đàn hồi cho roi, qua đó thay đổi phương hướng vận động. Được làm bằng sắ, nặng từ 3- 8 cân tùy thuộc vào sức khỏe của người tập. Quả chùy hình tròn, chia làm hai đầu trước và sau. Đầu trước giống hình răng con sói (Lang nha), trên có nhiều đinh sắt nhọn và sắc. Đầu sau tựa Lưu tinh chùy, không có đinh.
Cán tử tiên Cửu tiết tiên Lang nha chùy
 Là một loại nhuyễn chùy. Gồm có hai bộ phận là thân chùy và dây xích. Hình dạng quả chùy là hình bầu dục, thường làm bằng đồng. Dây xích dài khoảng 3,5 thước. Lưu Tinh Chùy là một trong những loại nhuyễn binh khí, cấu tạo bởi một quả chùy kim loại gắn với dây dài. Quả chùy thường có hình bầu dục, tròn…Hiện nay diễn luyện song lưu tinh trong các hoạt động võ thuật thường gặp các kỹ thuật hay phương pháp luyện tập : Lập Vũ Hoa, Đề Liêu Hoa, Đơn Thủ Hoa, Hung Bối Hoa, Triền Yêu Nhiễu Hoa, hoa pháp của nó có nhiều nét tương đồng với côn pháp, đại đao pháp.
Liên tử chùy Liên tử kiếm Lưu tinh chùy
Nhị Tiết Côn hình dạng nhỏ,có thể gập lại và mang theo người. Nhị Tiết Côn là vũ khí hết sức lợi hại để tự vệ phòng thân, uy lực của nó hết sức mạnh mẽ. Độ dài ngang bằng với đầu người tập khi đứng ở tư thế thẳng, tay duỗi sát thân. Côn được cấu tạo bởi 3 thanh đoản côn nối với nhau. Côn được làm bằng thân cây Bạch lạp nên mềm và dai. Khi luyện Tam Tiết Côn thì có thể nắm hai thanh đoản côn ở hai đầu, cũng có thể nắm đoạn ở giữa….
Nhị tiết côn Song chùy lưu tinh Tam tiết côn
Cấu tạo bởi một thanh bổng dài nối với dây xích sắt có lắp một thanh kiếm nhỏ
Thiết liên bổng Thiếu lâm lưu tinh chùy Thiếu lâm tiêu tử côn
     
 

Song binh khí
Được gửi vào 13:38 07/18/2005 (được xem 12 lần)

Là một loại đoản phủ. Lưỡi phủ rộng khoảng 5 thốn, hai bên đều có lưỡi, cổ dài 8 thốn, đuôi có lưỡi dày. Cán phủ dài khoảng 3 thước. Thường sử dụng cả đôi, ít khi sử dụng đơn, do đó người có sức mạnh mới có thể dùng. Là một loại đoản song chùy. Vì chùy có  hình bát lăng nên gọi là Bát Lăng Chùy. Cán chùy dài khoảng 4 thước, khi dùng mỗi tay cầm một
Ao diện song giản Bản phủ Bạt lăng chùy
Là một loại binh khí của phái Võ Đang, được làm bằng thép. Phần giữa thô, có các khuyên để khi cầm thì xỏ ngón tay vào; hai đầu có mũi nhọn như dùi. Một loại đoản song binh khí. Luân (bánh xe) hình nhật nguyệt (mặt trời, mặt trăng) gioa thoa nhau để lộ 5 lưỡi dao sắc ra phái ngoài.
Bát quái long hình châm Càn khôn nhật nguyệt luân đao Càn khôn quyện
 Trên thân câu có liêm sắt khá sắc, không có hộ thủ. Chủy Thủ (dao găm) là một loại kiếm ngắn, nó có lịch sử từ rất xa xưa. Từ thời kỳ đồ đá đã thấy xuất hiện dao găm bằng đá. Dao găm ngày nay đa phần làm bằng thép trắng, chia làm hai loại là loại một lưỡi và loại hai lưỡi. Loại dao có hai lưỡi thường ở giữa thân dao có nổi đường sống lên, hai bên lưỡi khá sắc, mũi dao nhọn và mỏng.    	 Một đầu cán có hoành quải (thanh quải ngang), tạo thành hình chữ Đinh nên gọi là ĐinhTự Quải.
Câu liêm tử Dao găm Đinh tự quải
Chỉ loại song binh khí khác nhau mà người diễn luyện sử dụng. Một tay cầm đơn đao, tay kia cầm Cửu Tiết Tiên, có độ khó khá lớn.
Đoản quải Đơn đao gia tiên Đơn đầu song thương
Đỉnh câu cao, mũi câu nhọn và sắc. Chỗ tay cầm có hộ thủ, lưỡi sắt hình nguyệt nha. Xung quanh chỗ tay cầm có hai chiếc Việt nhỏ nằm sát ở hai đầu cán. Là một loại đoản song chùy. Cán chùy ngắn, đầu chùy có hình bầu dục
Hộ thủ song câu Hộ thủ việt Kim qua chùy
Đoản song binh khí. Trên thân câu có một liêm bằng sắt. Chỗ tay cầm có hộ thủ, lưỡi sắt hình nguyệt nha. Trên thân câu có các gai bằng sắt, hình dạng giống như sừng của con hươu. Chỗ tay cầm có hộ thủ, lưỡi sắt hình nguyệt nha Hì nh trụ tròn.Cán chùy ngắn
Liêm câu Lộc giác câu Lôi công chùy
Là một trong những loại song binh khí. Loại kiếm này được xuất xứ từ Long Tuyền (Triết Giang). Giữa thân kiếm có lồi đường gân, phân định lưỡi trên và lưỡi dưới. Thông thường tay phải sử dụng thanh có hình Long (rồng), tay trái sử dụng thanh có hình Phụng (phượng). Mỗi thanh có một ngù kiếm đơn. Trên thân câu có hoa văn hình hoa mai. Chỗ tay cầm có hộ thủ, lưỡi sắt hình nguyệt nha. Là một loại song đoản binh khí. Thường được sử dụng trong thủy chiến. Chiều dài khoảng 1 thước, hai đầu có mũi dùi nhọn. Giữa thân có lỗ nhỏ, có gắn đinh.
Long phụng song kiếm Mai hoa câu Nga Mi thích
Đầu quả chùy hình trụ , giống quả dưa để nằm nên gọi là Ngọa Qua Chùy      Thường làm bằng gỗ táo, trọng lượng mỗi quải khoảng 8 cân. Phần hoành quải có hình cong như sừng trâu, sử dụng cả đôi nên gọi là Ngưu Giác Song Quải  Làm bằng gỗ táo. Cấu tạo kiểu ĐinhTự Quải nhưng phần hoành quải có hình như tim trâu, bóng và trơn.
Ngọa qua chùy Ngưu giác song quải Ngưu tâm song quải
Là một loại song binh khí nhỏ. Hai đầuhộ thủ có mũi nhọn, phía trước hộ thủ có Việt hình mặt trăng, khi luyện thì mỗi tay nắm một chiếc.  Là một loại song binh khí dị thường cổ đại mà Đạo gia hay sử dụng, cấu tạo bởi sự kết hợp giữa kiếm và phất trần.
Nguyệt nha thích Nhật nguyệt càn khôn quyện Phất trần kiếm
Cấu tạo bởi: nguyệt phủ, lưỡi cong, đầu phụng, hộ thủ bàn, cán phủ. Là loại song đoản binh khí. Đầu phủ hình cánh quạt xòe ra, cán dài 2,5 thước Độ dài hai côn như nhau, thường cao bằng đầu người tập. Sử dụng song côn thường khó hơn là đơn côn
Phụng đầu song phủ Song bản phủ Song côn
 Mỗi đầu thân cây bạch lạp là một mũi thương. Song thương tổng cộng có 4 mũi thương.
Song đao Song đầu song thương Song hiệp tiên
Là một loạibinh khí cổ đại. Song tiên thường được làm bằng sắt hoặc bằng đồng, có các đốt tựa như thân cây tre.
Song kiếm Song tiên Thanh đại song giản
Một trong những loại song binh khí nhỏ của phái Thiếu Lâm, chiều dài khoảng 3 thước.	Một trong những loại song binh khí nhỏ của phái Thiếu Lâm, toàn bộ chiếu dài khoảng 1,65 thước. Là một loại song Việt nhỏ của phái Thiếu Lâm, dài chừng1,1 thước. Một nửa biên ngoài mài khá sắc tự như lưỡi dao, ở giữa có khoét lỗ để tay có thể cầm.
Thiếu lâm lang nha bổng Thiếu lâm phân thủy tạm Thiếu lâm song bạt
Dài khoảng 3,5thước. Toàn bộ chiều dài khoảng 2,8 thước, nguyệt nha dài 7,5 thốn, trụ dài 1,5 thốn.
Thiếu lâm song giản Thiếu lâm song kích Thiếu lâm song thủ câu
Toàn bộ chiều dài khoảng 3 thước, đây là một trong những song binh khí chủ yếu của phái Thiếu Lâm  Là một trong những loại song binh khí của phái Thiếu Lâm. Cán dài 2,7 thước, đầu dài 6,9 thốn, hai mũi cách nhau khoảng 7,5 thốn. Tổng chiều dài khoảng 3 thước
Thiếu lâm song thủ việt Thiếu lâm tuyên hoa phủ Thiếu lâm tuyết hoa thương ngân đao
Hai đầu nhọn, ở giữa cũng có một mũi. Chiếu dài chừng 4 thốn 4phân, rộng, 2,1 thốn. Là một trong những song binh khí của phái Thiếu Lâm. Cán dài 1,3 thước, đàu dài 1 thước. Hay còn gọi là Bát Quái Việt. Đây là một loại binh khí thường được môn phái Bát Quái Chưởng sử dụng. Các Taolu nổi tiếng là: Mãng Hành Việt, Sư Cổn Việt, Hổ Phốc Việt, Hùng Bối Việt, Hầu Hý Việt, Bằng Triển Việt…
Thiếu lâm Tý Ngọ đinh Thiếu lâm uyên ương thích Tử mẫu uyên ương việt
Là một lọai song binh khí nhỏ.Khi diễn luyện, mỗi tay giữ một chiếc.    
Tý ngọ uyên ương việt

Binh khí dài
Được gửi vào 08:32 07/02/2005 (được xem 25 lần)

Thuộc một trong những binh khí nặng, cổ đại của phái Thiếu Lâm. Bài Ba Mộc gồm các bộ phận: đầu ba, cán gỗ, đuôi mũi nhọn. Chiếu dài thường là 5,4 thước, đầu ba hình chữ “Đinh”. Sáu mũi ba dài và nhọn như răng lược.                                    Trên thân côn có khắc hoa văn nên gọi là Bàn Hoa Côn.                     Mũi giữa dài hơn hai mũi bên khoảng 3-4 thốn, hình dạng uốn lượn như con rắn. Cạnh trong của hai mũi bên uốn cong, nối với chân của mũi giữa. cán dìa khoảng 8 thước, đuôi có mũi nhọn.                     Mũi đao cực sắc, sống đao cong và rộng bản. Cuối cán đao có mũi nhọn.              
Bài ba mộc Bàn hoa côn Bao đầu cương xoa Bút đao
Là một dạng bút sắt, hình dạng giống như nắm tay quyền đang nắm một chiếc bút ở giữa. Bút Trảo còn có tên gọi khác là “ Phán Quan Bút” Lưng đao có câu nhô ra hình câu liêm, lưỡi khá sắc, sử dụng thuận tiện khi lâm trận.  Là một loại kích, đầu cong, đồng thời có một câu liêm. Trên đầu kích có gắn thêm dải lụa màu. Tác dụng có câu, liêm, kích nên rất có giá trị trong thực chiến.
Bút trảo Càn khôn nhật nguyệt đao Câu liêm đao Câu liêm kích
Câu Liêm Thương Thương dài khoảng 7,2 thước, trong đó đầu thương khoảng 8 thốn. Đầu thương nhọn và sắc, phía bên dưới lộ ra một đoạn câu, mũi cong vào phía trong. Cán thương dài khoảng 6 thước, thô, tròn, đường kính 4 thốn, làm bằng gỗ. Đuôi cán có mũi nhọn dài khoảng 4 thốn. Dài khoảng 5 thước, mũi dài 1,2 thốn. Hai đầu bổng mỗi đầu dài khoảng 1,5 thốn. Đầu trên có gai 48 chiếc gai nhọn, đầu dưới có 50 chiếc, gai ngắn nhất là 5 phân. Cổ Mâu Thương Binh khí sắt thời nhà Minh. Đầu thương dài 7 thốn, nặng 4 lạng, mũi sắc nhọn, dùng để đâm. Đầu kích cong, có một hình trăng lưỡi liềm, gắn thêm dải lụa màu.
Câu liêm thương Chử bổng Cổ mâu thương Cửu khúc kích
 Dài khoảng 9 thước, trong đó cán dài 7 thước. Chia làm 3 xoa, mỗi xoa 3 mũi, đầu xoa giống như đầu thương. Cửu Khúc Thương Thương dài 1,1 trượng, đầu thương hình con rắn uón lượn. Mũi thượng sắc nhọn, hai bên có lưỡi mỏng. Cửu Khúc Thương được sử dụng rộng rãi cùng chiến mã vào thời nhà Minh. Dài khoảng 9 thước, trong đó cán dài 7 thước. Hình dạng giống Ba, có 9 xoa nhọn. Dài 8 thước 5 thốn, trong đó cán dài 7 thước. Đầu thảng chĩa thành tam xoa, mũi xoa ở giữa giống mũi thương, hai mũi ở giữa gập hướng sang hai bên, lưỡi phẳng và cực kỳ sắc. Đàu thảng có quét sơn đen, sử dụng tác chiến vào ban đêm.
Cửu khúc thảng Cửu khúc thương Cửu phụng thảng Dạ chiến thảng
Các môn phái quyền thuật phía Nam Trung Quốc thường gọi là Xoa (Tam Cổ Xoa).  Đầu phủ (búa rìu) nặng, cán dài. Đầu phủ làm bằng đồng hoặc sắt. Lưỡi sắc, đuôi dày và hẹp. Phủ được kỵ binh sử dụng nhiều khi công thành ,phá quan, tiên phong mở đường Thân đao thẳng, đầu mũi đao hướng lên trên, mũi nhọn và sắc, cuối cán lắp có mũi nhọn bằng sắt. Là binh khí thời cổ. Cán dài 1 trượng, hai đầu có Việt (lưỡi con), dưỡi mỗi Việt đều có thêm 1 Việt nhỏ hơn, duỗi xuống theo thân cán.
Đại ba Đại phủ Điêu đao Đối việt
Được cấu tạo bởi Kích và Câu. Đầu Kích có Nguyệt Nha (Trăng lưỡi liềm). Đơn Nguyệt Nha còn có tên là “ Thanh Long Kích”.
 Hoa Thương Cán thương dài khoảng 5 thước, đầu thương hình cây thoa, dưới có treo ngù đỏ. Cán thương bằng gỗ thô nên khi sử dụng thường làm cho đầu thương rung, khiến cho đối thủ khó có thể phán đóan được đòn thế, hoa mắt chóng mặt, do vậy có tên là Hoa Thương. Hộ Thủ Sóc Dài 6 thước, đầu sóc hình bán nguyệt, trên có 8 chiếc đinh dài và nhọn.
Đơn nha nguyệt Đơn việt Hoa thương Hộ thủ sóc
Lưỡi trước khá sắc, lưỡi sau hơi xiên. Cán bằng gỗ dài, cuối có gắn mũi sắt.  Dài khoảng 5 thước, mũi đao 4 thốn. Cán thô và chắc tay cầm, cuối có gắn mũi sắt nhọn. Khi giao chiến, Kích Đao có thể phát huy mũi kích phía bên, dương Đông kích Tây, hư thực đa biến.  Hình dạng đầu sản giống như cái chuông, lưỡi hướng lên trên, can dài khoảng 6 thước.  Là một loại thuộc côn, dài khoảng 4 thước, hai đầu bổng được bịt sắt hoặc đồng.
Khuất đao Kích đao Kim chung sản Kim cơ bổng
Dài khoảng 6 thước, đầu bổng bằng gỗ tròn hình quả trứng,trên có gắn nhiều đinh nhọn như răng sói (lang) cho nên gọi là Lang Nha Bổng. Lang Nha Bổng thường nặng nên thường được sử dụng trong kỵ chiến, thịnh hành vào thời Tống.  Đuôi có mũi sắt nhọn.  Cán dài 7 thước, một đầu là chùy hình bầu dục, để thẳng thì giống quả dưa nên gọi là Lập Qua.  Lê Hoa Thương Là loại hình binh khí kết hợp bởi trường mâu và hỏa khí. Đầu thương có lắp ống phóng hỏa, bên trong đựng thuốc nổ để có thể sát thương đối thủ. Khi thuốc cháy nổ sẽ phát ra những chùm tia lửa như hoa lê nên gọi là Lê Hoa Thương.
Lang nha bổng Lang nha sóc Lập qua chùy Lê hoa thương
 Do một cây côn dài (trường côn) nối với hai đoạn côn ngắn (đoản côn) hợp thành. Mỗi đầu côn đều có dây xích nối. Khi sử dụng, tay cầm và múa trường côn, đồng thời dẫn động theo hai đoản côn. Cấu tạo bởi một thanh trường côn và hai thanh đoản côn. Đầu cào dài 2,2 thước. Vì có 6 răng sắt nên gọi là Lục Xỉ, phương pháp sử dụng giống như bồ cào bình thường. Cán dài khoảng 6 thước, hai đầu đều có chùy hình bầu dục.
Liên châu côn Liên châu song côn Lục xỉ ba Lưỡng đầu chùy
 Gồm có một trường côn nối với 2 đoản côn bằng 3 khuyên sắt. Khuyên sắt ở giữa có thể lắp thêm lục lạc để tạo âm thanh khi múa.  Dài 8 thước, mỗi đầu có 1 Việt và đều có thể sử dụng linh hoạt, đa biến. Là một dạng đao dài. Mạch Đao gồm có hai lưỡi, tương đối nặng (khoảng 25kg). Mạch Đao được sử dụng rộng rãi vào thời Đường, sau đó dần bị quên lãng. Còn có tên là “ Mã Xoa”, dài 1-3 thước. Một đầu dùng để làm tay cầm, đầu còn lại có 3 mũi, hai mũi cong hướng ra hai bên. Trong thời kỳ Trung diệp khi Trung Quốc kháng Nhật thì được sử dụng khá phổ biến, đặc biệt là vùng duyên hải Sơn Đông.
Lưỡng đầu tiêu tử côn Lưỡng đầu việt Mạch đao Mã giá
Thân đao hẹp, mũi sắc và mỏng, lưỡi đao cong vát. Cán bằng gỗ, cuối có gắn mũi sắt nhọn.  Còn gọi là Ngưu Đầu Thảng. Đầu thảng có ba mũi giống như mũi Xoa, làm bằng sắt, ở giữa có lưỡi khá sắc tựa lưỡi kiếm, dao. Dưới lưỡi này có hai cánh cong như sừng con trâu, khoảng cách khoảng 1 thước 2 thốn. Cán thảng làm bằng gỗ thô, dài 6 thước. Ngưu Đầu Nguyệt Thảng có thể dùng để công hoặc thủ, lợi hại trong việc phá Thương Đầu phủ có hình dạng giống như con cá nên gọi là Ngư Vỹ Phủ.
Mi tiêm đao Mộc thủ Ngưu đầu nguyệt thảng Ngư vỹ phủ
 Do đầu sản có hình giống mặt trăng lưỡi liềm nên gọi là Nguyệt Nha. Nhạn Linh Thương Là binh khí thời nhà Thanh. Thân dài khoảng 7,2 thước, đầu thương 8 thốn, cán dài 6 thước. Cán làm bằng gỗ, đầu thương bằng sắt, đuôi cán có mũi sắt nhọn.  Dài 9 thước, trong đó cán dài 7 thước, đuôi cán thảng có mũi sắt nhọn dài 5 thốn. Đầu thảng chia thành tam xoa, mỗi mũi xoa đều có lưỡi sắc. Mũi xoa ở giữa nhọn như mũi kiếm, hai mũi xoa hai bên có hình giống như mỏ chim nhạn nên được gọi là Nhạn Tủy Thảng.
Nguyệt nha sản Nhạn liêm Nhạn linh thương Nhạn tủy thảng
Dài 9 thước, trong đó cán dài 7 thước, nặng chừng 10 cân (5kg). Đuôi cán có mũi sắt nhọn dài khoảng 5 thốn. Đầu thảng chia làm tam xoa, trong đó hai mũi xoa hai bên có hình đuôi con chim nhạn cho nên gọi là Nhạn Vỹ Thảng. Dài 9 thước, trong đó cán dài 7 thước, đuôi cán thảng có mũi sắt nhọn dài 5 thốn. Đầu thảng chia thành tam xoa, mũi xoa ở giữa nhọn như mũi thương, hai mũi xoa hai bên có hình giống như cánh chim nhạn nên được gọi là Nhạn Xí Thảng.  Hai đầu sản, một đầu giống hình mặt trăng, đầu kia giống hình mặt trười nên gọi là Nhật Nguyệt. Làm bằng sắt, cán dài. Đầu cán lắp hai mũi xoa song song nhau.
Nhạn vỹ thảng Nhạn xỉ thảng Nhật nguyệt sản Nhị cổ xoa
 Là một loại kích dài, đầu kích có hình Nguyệt Nha (trăng lưỡi liềm) đối xứng hai bên trái và phải.  Đầu đao hình vòng cung, cong như mỏ con chim phượng, cuối cán có mũi nhọn. Làm bằng gỗ, đoạn giữa thân có gấp khúc, dài khoảng 7-8 thốn.      Liên Châu Côn Do một cây côn dài (trường côn) nối với hai đoạn côn ngắn (đoản côn) hợp thành. Mỗi đầu côn đều có dây xích nối. Khi sử dụng, tay cầm và múa trường côn, đồng thời dẫn động theo hai đoản côn. Một đầu là Việt, đầu kia là Sản. Do đó đều có công năng của cả hai loại binh khí.
Phương thiên kích Phượng tủy đao Quải côn Sản việt
 Đao được chia làm 3 mũi, mũi giữa hơi cao, hình kiếm., hai bên đều có lưỡi sắc. Cuối cán đao có mũi sắt nhọn. Dài 7 thước. Đầu sóc hình quả táo, làm bằng sắt. Trên đầu sóc có 6 hàng đinh nhọn. Là một loại côn, làm bằng thân cây Bạch Lạp, mềm và cứng. Để côn thẳng đứng, đầu côn cao ngang lông mày, do đó gọi là Tề Mi Côn. Thái Ninh Bút Thương Đầu thương nhọn và sắc. Dưới lưỡi thương là một miếng sắt có lưỡi sắc. Vì đầu thương giống như ngòi bút nên có tên là Bút thương.
Tam tiêm lưỡng nhậm đao Táo dương sóc Tề mi côn Thái ninh bút thương
Bên cạnh đầu kích có lắp Nguyệt Nha, gắn thêm dải lụa màu. Thân kích có chạm hình Thanh Long (rồng xanh). Cấu thành bởi đầu cào và cán cào . Đầu cào được chế bằng sắt hoặc gang, gồm có ba mũi, mũi giữa dài hơn hai mũi bên, cán thường làm bằng gỗ cứng. Do trên mũi đinh ở giữa có khắc hình bảy ngôi sao nên gọi là Thất Tinh Ba.  Tăng nhân hay sử dụng. Dài khoảng 5 thướ, làm bằng sắt. Hai đầu trượng đều có lưỡi. Một đầu mang hình trăng lưỡi liềm, trên có đục lỗ và treo 4 chiếc khuyên sắt. Đầu kia giống như hình chiếc chuông treo ngược. Trượng dài khoảng 7 thước. Hai đầu trượng đều có thể sử dụng.    Còn gọi là “ Tiêu Tử Bổng”, “Nhị Tiết Côn”. Cấu tạo bởi hai thanh côn gỗ có độ dài khác nhau nối liền. Thanh côn dài khoảng 4 thước, thanh ngắn khoảng 1,5 thước.
Thanh long kích Thất tinh ba Thiền trượng Thiết liên bổng
Làm bằng gỗ, dài từ 8 đến 8,5 thước. Tương truyền vào thời Minh, võ tăng Thiếu Lâm Tự thường dùng để luyện võ. Tổng chiều dài khoảng 8 thước, dùng để phòng thân, tập võ và bảo vệ chùa. Tổng chiều dài khoảng 5 thước, đầu dài 8 thốn Dài khoảng 7,5 thước, dùng để phòng thú dữ, chống đạo tặc.
Thiếu Lâm côn Thiếu Lâm độc cổ xoa Thiếu Lâm đồng chùy Thiếu Lâm lưỡng cổ liệt xoa
Thiếu Lâm Thù Dài 1,2 trượng. Hai đầu đều có chùy gai, răng sắt nhọn.  Là loại côn được sai dịch sử dụng vào thời xưa. Hình dạng giống như đoản côn. Một nửa thân côn sơn màu đỏ, nửa còn lại sơn màu đen. Màu đỏ tượng trưng cho Hỏa (lửa), màu đen tượng trưng cho Thủy (nước) cho nên được gọi là Thủy Hỏa Côn. Là một loại côn, được cấu tạo bởi hai đoạn côn có độ dài khác nhau nối liền. Độ dài của đoản côn bằng 1/2 độ dài của trường côn. Khi sử dụng, tay cầm và múa trường côn, đoản côn theo đó động theo.  Hình dạng giống bàn tay chưởng. Trong đó ngón áp út, ngón giữa và ngón út cong gập, ngón trỏ duỗi thẳng, ngón cái gập hướng vào ngón giữa. Trảo dài 7 thước.
Thiếu Lâm thù Thủy hoa côn Tiêu tử côn Triều thiên trảo
Chiều dài khoảng 1,6 trượng, cán thô. Mang đặc điểm của côn thuật, đó là phạm vi hoạt động rộng, công thủ chặt và mạnh. Thân Qua khá dài nên gọi là Trường Qua  Lưỡi phủ khá lớn, đầu cán nối liền với đầu phủ có lộ ra mũi nhọn khá dài.     Xuân Thu Đại Đao thịnh hành tại các Tỉnh như Hà Bắc, Hà Nam, Hắc Long Giang. Xuân Thu Đại Đao có đặc điểm là đao pháp linh hoạt, biến hóa đa dạng, khí thế oai hùng, kình lực quán trú, tốc độ nhanh mạnh, động tác kín, chặt, phóng khoáng. Khi luyện yêu cầu khí trầm Đan Điền, hàm hư bao khí, thân pháp uyển chuyển, cương nhu tương tế.
Trượng nhị bổng Trường qua Tuyên hoa phủ Xuân Thu đại đao
Quan Vân Trường trong truyện “Tam Quốc Diễn Nghĩa” thường sử dụng , còn có tên là “ Quan Đao”. Thân đao hẹp và dài, lưng đao có hình Thanh Long (Rồng xanh) cho nên cũng được gọi là “Thanh Long Đao”. Mũi đao có ngạnh, đầu ngạnh tựa như thương, vô cùng sắc bén. Lưng đao có các răng cưa.      
Yểm nguyệt đao

Xạ kích
Được gửi vào 14:25 06/10/2005 (được xem 22 lần)

Nỏ.Là binh khí dùng để phóng tên, có bàn bắn. Theo lịch sử ghi chép thì nỏ có từ thời thượng cổ, đến thời kỳ đồ đá mới đã xuất hiện nỏ gỗ. Vào thời Xuân Thu chiến quốc nỏ đã được quân đội sử dụng phổ biến. Nỏ hoạt động theo nguyên lý cơ xạ, tuy nhiên trong các cuộc chiến tranh cận đại trở lại đây thì đã không còn sử dụng nữa. Hiện nay nỏ trở thành một hạng mục thi đấu thể dục, nỏ không có sự hình thành taolu động tác cho nên không được liệt vào hạng mục võ thuật. Tên.Tên gồm có bộ phận là: đầu tên, thân tên, đuôi tên. Đầu tên thường làm bằng sắt hoặc bịt sắt, nhọn. Thân tên thường làm bằng gỗ hoặc tre. Phần đuôi tên làm bằng lông giúp cho tên bay trong không trung được ổn định. Tam Cung Sàng Nỏ.Tam Cung Sàng Nỏ có hình dạng : hai cung ở phía trước và một nỏ ở phía sau. Khi kéo loại nỏ này thì cần sức của rất nhiều người. Khi đã kéo căng dây thì cần đến hai người để ngắm mục tiêu, còn một người khác thì bật nẫy nỏ. Tên dùng cho nỏ được làm bằng gỗ, đuôi tên bằng sắt.

Ám khí
Được gửi vào 14:14 06/10/2005 (được xem 25 lần)

Bút điểm huyệt Phán Quan.Là một dạng binh khí ngắn. Cấu tạo bằng ống sắt rỗng ruột, bên trong có đặt mũi dao. Khi điểm huyệt, chỉ cần bật nẫy là mũi dao cóthể phóng ra, sát thương địch nhân. Bút điểm huyệt Phán Quan có thể đơn dụng hoặc song dụng. Phi dao.Chia làm hai loại: loại có một lưỡi và loại có hai lưỡi, làm bằng thép. Phi dao hai lưỡi có chiều dài khoảng 20cm, nặng 10 lượng ( thân daohơn 3 lượng, chuôi dao hơn 4 lượng, hộ thủ 2 lượng). Lưỡi dao khá sắc, mỏng, hình lá liễu. Cuối chuôi dao có thắt ngù màu đỏ, dài khoảng 4cm. Đơn phi dao nặng khoảng 8 đến 9 lượng. 12 chiếc gộp thành một bộ, chia làm hai hàng, mỗi hàng 6 chiếc, găm vào dây da, chuôi lộ ra ngoài. Tay phải dùng hàng dao đặt bên thân trái, tay trái thì dùng bên ngược lại. Như Ý Châu.Là binh khí dạng hạt, tròn. Mỗi hạt nặng chừng 3-4 phân. Khi phóng đi, dùng hai ngón tay giữ nhẹ, sau đó dùng 1 ngón búng ra. Khoảng cách bắn xa hay gần phụ thuộc vào trọng lượng và kích cỡ của hạt, ví dụ hạt mà nhẹ và nhỏ thì khó có thể bắn được xa. Kim Tiền Tiêu.Còn có tên là “ La Hán Tiền”. Vũ khí này thông dụng vào thời nhà Thanh. Đó là nững miếng kim loại được mài tròn, cạnh sắc, có lỗ ở giữa, dễ mang và thường được xâu thành chuỗi. Kim Tiền Tiêu dùng để sát thương mặt hoặc cổ tay của đối phương. Luyện được cách sử dụng loại ám khí này là tương đối khó. Tụ Quyện.Hình dạng miếng sắt tròn, mỏng, có lỗ ở giữa, khi không dùng đến thì cất giấu trong ống tay áo. Khi sử dụng thì rút ra, lia cắt đối phương. Thiếu Lâm Lượng Ngân Phi Tiêu.Dài khoảng 8-10cm, chuôi có gắn ngù, nối qua khuyên sắt.
Thiếu LâmKim Tiền Tiêu.Đường kính của tiêu khoảng 2cm, xung quanh có lưỡi, giữa đục lỗ hình vuông. Phi Câu.Sáng chế vào thời nhà Minh, làm bằng sắt. Trên cán có gắn 4 chiếc móc ngược, mũi nhọn và sắc, chuôi cán có lỗ tròn, gắn khuyên sắt. Vũ khí này khá nặng, người có sức khỏe mới có thể sử dụng. Khi dùng thì phòng câu ra, sát thương đối thủ, thường được dùng trong thủy chiến. Phi Trảo .Cấu tạo bởi trảo và dây thừng. Độ lớn của trảo khoảng bằng bàn tay người sử dụng, làm bằng sắt. Phi trảo hình dáng tựa bàn tay,cũng có các ngón và cá khớp. Khi sử dụng Phi trảo, dùng sức ném trảo về phía đối phương để chộp bắt, không cho họ tẩu thoát. Phi Chùy.Cấu tạo bởi chùy và dây thừng. Chùy được làm bằng sắt, phía dưới nối với cán sắt và dây. Cuối cán có khuyên sắt để nối với dây thừng. Huyết Trích Tử.Cấu tạo bởi dao và dây. Dây dài khoảng hai trượng. Khi sử dụng, dùng đầu có dao chụp lấy đầu của đối phương, sau đó giật dây để các lưỡi dao xoay chuyển, cắt cổ đối thủ.  
           

Return to main page

                                     

                                     

                                     

  

 Practicing at a Temple in Vietnam Shaolin kungfu self-defense

   MOVIES>> short movie sword,stick&kata Kata, Stick&Sword          

 

   Martial Arts Studio  Address7243-7245 Corbin Ave, Canoga Park, CA 91306  

                 THANK YOU FOR VISITING TO KIENANDO

  Guestbook     emailed.gif (14893 bytes) 

 

 


 

 

This web site was created by pptwebmaster.com  has been accessed  times since 06/04/01
 Questions, comments. problems regarding this web site will be directed to [kienandokungfu.com].
    Martial Arts  Address 7243-7245 Corbin Ave, Canoga Park, CA 91306
     
Send Email to: emailed.gif (14893 bytes) info@kienandokungfu.com 
  Copyright © 2001 [Kienando]. All rights reserved. 
    Last modified: Monday September 10, 2007