|
1)
Trọng thực chiến, đơn giản không hoa
mỹ
“Trọng thực chiến,
đơn giản không khoa trương” là một
trong những đặc điểm nổi bật
nhất của quyền thuật Thiếu Lâm. Sự h́nh
thành và chức năng của quyền thuật
Thiếu Lâm có mối quan hệ mật thiết
với chính trị xă hội, quân sự và đời
sống hiện thực. V́ vậy có thể nói, vơ
thuật chính là văn hóa, hơn nữa đó là văn
hóa nhân sinh hết sức lư thú.
a)
Mối quan hệ thực chiến và bối cảnh xă
hội:
“Tăng nhân bản chất vốn không động
đến vơ thuật mà chỉ hành thiện, từ
bi vi hoài, phổ độ chúng sinh, vậy v́ sao
lại phải dùng đến vơ? Sử dụng, đao,
kiếm, côn, thương…?” Đó là v́ do sự
ảnh hưởng trực tiếp của chính
trị, xă hội, quân sự và tự viện.
Thiếu Lâm Tự ngay từ thời nhà Tùy
đă có đất đai rộng lớn, hàng năm
bội thu, hương hỏa thịnh vượng…trở
thành mục tiêu của giặc cướp. Nhằm
bảo vệ sự an toàn và sinh tồn của
Thiếu Lâm Tự, các sư tăng đă tổ
chức huấn luyện vơ nghệ cho các tăng nhân
trẻ tuổi. Trong quá tŕnh tập luyện vơ
thuật, vơ tăng đều xuất phát từ
thực tế chiến đấu, khổ luyện
kungfu, mỗi chiêu thức đều mạnh, chuẩn,
hiểm ác…nhằm hạ gục địch thủ.
Năm này qua năm khác, vơ tăng không mấy quan tâm
đến việc chiêu thức đó đẹp hay không
đẹp, nghĩa là không cần đến sự
mỹ miều mà chỉ chú trọng đến
hiệu quả thực chiến của nó.
b)
Mối quan hệ thực chiến với chính trị
quân sự:
Quyền Phổ có
ghi: “ Quyền là nguồn
gốc của mọi nghệ (vơ), thập bát ban binh
khí được phát triển là dựa trên các
động tác thao lu của quyền thuật. Cuối
đời nhà Tùy, Vơ Đức năm thứ 3 ( năm
620), Trịnh vương Thế Xung và Tần vương
Lư Thế Dân giao chiến ở phía Đông, Thiếu
Lâm Tự phái Đàn Tông dẫn 13 vơ tăng phục
kích, đánh bại quân Trịnh, cứu Lư Thế
Xung, diệt nhà Tùy lập nên nhà Đường. Qua
sự kiện này mà Thiếu Lâm Tự được
vua Đường ban thưởng hậu hĩnh,
đất đai được mở rộng thêm,
phong Đàn Tông làm Đại Tướng Quân, phê
chuẩn thường xuyên dự bị 500 vơ tăng,
Thiếu Lâm Tự từ đó công khai tham dự vào
chính trị, thanh danh vang tứ phương”.
Đến các triều đại Tống, Nguyên,
Minh, vơ tăng Thiếu Lâm Tự chỉ có tăng mà
không có giảm. Đặc biệt là vào đời
nhà Minh, số lượng vơ tăng đă có đến
hơn 2000 người. Từ đời vua Gia Tĩnh
(Minh) đến đời vua Thành Hóa, trong ṿng 100 năm,
Thiếu Lâm Tự đă phái hàng chục vơ tăng
tổ chức nhiều chống quân xâm lược
phong kiến Nhật Bản. Trong giai đoạn này, vơ
tăng Thiếu Lâm đă thể nghiệm được
tính chất quan trọng của vơ thuật thực
chiến. Các giáo đầu Thiếu Lâm khi truyền
dạy vơ thuật cho tăng nhân chỉ nhấn
mạnh đến các chiêu thức thực chiến,
không truyền dạy hay quan tâm đến sự
mỹ miều, cũng chính là làm cho vơ tăng
hiểu được ai luyện một cách hoa
mỹ th́ người đó sẽ chịu thiệt,
ai luyện được bản lĩnh thực
chiến th́ người đó sẽ có kungfu “cứng”.
c)
Mối quan hệ thực chiến với các môn phái vơ
thuật
Kể từ đời vua Thái Ḥa – Bắc
Ngụy (496), sau khi ḥa thượng Tăng Chu thành danh,
vào các thời kỳ sau đều có nhiều tăng
nhân mới khác, đem vơ nghệ của ḿnh vào
Thiếu Lâm Tự. Ví dụ như vào năm Đại
Nghiệp thứ 20 nhà Tùy, có vơ tăng Thần Tú –
đệ tử của ḥa thượng Hoằng
Nhẫn, ḥa thượng Viên Tĩnh đời nhà
Đường, đời nhà Tống có Kim Lăng,
thời Ngũ Đại có Ngọc Phong, thời Minh có
Tuyết Cư, thời Thanh có Hải Linh…trước
khi xuất gia, họ đều là những người
có vơ công của nhiều môn phái vơ khác nhau. Sau khi vào
Thiếu Lâm Tự, các ḥa thượng này không
ngừng giao lưu với các vơ tăng khác, có
thể nói vơ thuật Thiếu Lâm có cơ hội
tốt để hấp thu các tinh hoa của vơ
thuật dân gian, qua đó nâng cao tính thực chiến.
Đặc biệt là ḥa thượng Phúc Cư
thời nhà Tống đă hội tụ 18 đại
cao thủ vơ thuật trong dân gian đến Thiếu Lâm
Tự giao lưu vơ nghệ, qua đó ông đă biên
soạn ra quyền phổ, tạo điều kiện
cho thao lu quyền thuật Thiếu Lâm có thêm đà phát
triển
d)
Mối quan hệ thực chiến với cuộc
sống thực tại
Trong đời sống thường ngày, vơ
thuật mang hai ư nghĩa. Một là, kiện thân, tăng
cường sức khỏe, có thể sử dụng
chiêu thức, quyền cước hoa mỹ. Hai là,
biểu diễn, đem lại sự thưởng
thức cao đẹp đối với người
xem. Những điều này có thể đem lại
niềm say mê của mọi người đối
với vơ thuật. Nhưng đối với tầng
lớp thanh thiếu niên th́ đại đa số
tập vơ là nhằm sử dụng để tự
vệ, pḥng thân. Nói một cách cụ thể, đó
là sử dụng kungfu “cứng”, gặp những
kẻ hung bạo, đứng trước nguy cơ
thiệt mạng mà nếu luyện vơ chỉ nhằm
mục đích hoa mỹ th́ đối phó sẽ
trở nên khó khăn. Điều này đă khiến
cho những người tập vơ thuật Thiếu Lâm
quyết tâm khổ luyện bản lĩnh thực
chiến.
2)
Quyền đi theo đường thẳng
Đây
là một trong những đặc điểm dễ
nhận thấy nhất và cũng là dễ phân
biệt nhất giữa phong cách vơ thuật Thiếu Lâm
với các môn phái vơ thuật khác. Nghĩa là mỗi
một bài quyền Thiếu Lâm từ khởi thức
cho đến thu thức đều luôn duy tŕ hướng
vận động theo một đường thẳng.
Kiểu vận động này hết sức có
lợi đối với việc gia tốc, qua đó
ảnh hưởng tích cực đến thực
chiến ( Trong thực chiến, tốc độ
được coi là trên nhất).
3)
Phi khúc phi trực
(Không
cong, không
thẳng)
‘
Phi khúc phi trực” chủ yếu chỉ đặc
điểm thủ pháp. Khi xuất quyền hoặc
xuất chưởng tấn công đối phương,
yêu cầu cánh tay thẳng mà không thẳng, cong mà không
cong, Bởi v́ nếu cánh tay thẳng quá th́ các
mạch, gân, sẽ trở nên căng, không những
dễ bị phản công mà c̣n gây bất lợi khi
thu về. Ngược lại nếu cánh tay cong quá th́
vừa không có sức mạnh, vừa làm mất đi
cự li có thể đánh vào bô vị yếu hại
của đối phương. V́ vậy trong quá tŕnh
luyện tập trường kỳ, các vơ tăng
đă đúc kết được kinh nghiệm ‘phi
khúc phi trực”, có lợi cho cả tấn công
lẫn pḥng thủ, linh hoạt vận dụng
4)
Cổn nhập xuất
“
Cổn nhập xuất” là chỉ khi xuất
quyền hoặc xuất chưởng th́ cánh tay
cần phải xoay ṿng, thể hiện la hoàn ḱnh
để tấn công đối phương. Đặc
điểm của nó là, mượn đà xoay
chuyển, điều khí ở Đan Điền,
trợ lực cho cánh tay đánh vào bộ vị
yếu hại của đối phương.
5)
Quyền đánh “ngọa ngưu chi địa”
“Ngọa
ngưu chi địa” nghĩa là nơi trâu nằm.
Đây là chỉ đến phạm vi hoạt động
của quyền thuật Thiếu Lâm. Thiếu Lâm
quyền không cần những nơi đất
rộng mới có thể diễn luyện được
mà chỉ cần một phạm vi không gian nhỏ
hẹp là có thể thực hiện được.
Thiếu Lâm quyền không chịu sự ràng buộc
về sân băi, ở mọi nơi, mọi chỗ đều
có thể phát huy được uy lực
6)
Thiền Vơ hợp nhất
Thiếu Lâm Tự là tổ đ́nh của
Phật giáo Thiền Tông. Tư tưởng Thiền Tông
không những ảnh hưởng đến đời
sống của tăng nhân mà c̣n ảnh hưởng
đến phong cách, đặc điểm của
quyền thuật Thiếu Lâm. Mỗi một bài
quyền Thiếu Lâm đều chứa đựng
những triết lư của Phật giáo, coi “tâm” pháp
là chiến thuật phi “h́nh” pháp. Sự vận
động của những động tác trong
từng bài quyền đều nằm dưới
sự chi phối hay trạng thái Thiền định,
ví dụ như chắp tay kính lễ , “Đồng
tử bái Quan Âm”, “Thiên Địa hợp nhất”…
Return to main page
|