Tên
gọi Thái Cực Quyền được khởi
nguồn từ lư luận triết học “ Thái
Cực” trong Chu Dịch và từ họ thuyết Âm Dương.
“ Dịch có Thái Cực, Thái Cực sinh Lưỡng
Nghi”. “ Thái” ở đây mang nghĩa là to lớn,
“ Cực” mang nghĩa là bắt đầu hoặc
đỉnh điểm. Vào thời nhà Tống, Chu
Đôn Di có giải thích trong Thái Cực Đồ là
“ Vô cực mà Thái cực”, không cho rằng Thái
Cực được sinh ra từ Vô cực mà “ Thái
cực vốn dĩ đó là vô cực”. Có thể nói
Thái Cực Đồ là thế giới quan sớm
nhất của người Trung Hoa cổ đại. V́
Thái Cực Quyền quyền pháp bao gồm các mặt
vận động đối lập, thống nhất
với nhau như: cương nhu, nhanh chậm, tiến
thoái, chiêm tẩu...mà chúng thuộc hai mặt Âm và Dương
nên được gọi là Thái Cực Quyền.
Về nguồn gốc của Thái Cực Quyền. Theo
các tài liệu nghiên cứu th́ được h́nh thành
từ cuối thời nhà Minh đầu nhà Thanh - Trung
Quốc. Trong “ Ôn Huyện Chí” có ghi chép rằng:
“ vào năm thứ tư Sùng Trinh đời vua Minh
Tư Tông (1644) có Trần Vương Đ́nh là quan vơ
tại huyện Ôn (Tỉnh Hà Nam - TQ). Sau khi nhà Minh
bị diệt vong, ông về ẩn tại quê nhà. Vào
thời điểm này ông dành nhiều thời gian
để nghiên cứu vơ thuật, nhận đệ
tử để truyền dạy. Trần Vương
Đ́nh đă nghiên cứu “ Hoàng Đ́nh Kinh”
của Đạo giáo, đồng thời so sánh, tham
chiếu với “ Quyền Kinh” của Thích Kế
Quang” để soạn ra Thái Cực Quyền. V́
vậy có thể kết luận rằng Trần Vương
Đ́nh là người sáng tạo ra Thái Cực
Quyền.
Nguồn gốc của Thái Cực Quyền có 3 đặc
điểm chính là:
1) Hấp thụ một cách tổng hợp quyền pháp
của thời nhà Minh.
Thích Kế Quang là nàh vơ thuật nổi tiếng
thời nhà Minh, ông có công lớn trong cuộc
chiến tranh chống quân xâm lươch Nhật
Bản thời bấy giờ. Thích Kế Quang đă
tổng kết và chỉnh lư quyền pháp của 16
loại quyền thuật đương thời, đồng
thời áp dụng 32 thức Trường Quyền
của Tống Thái Tổ - Triệu Khoang Âm để
tạo nên bài quyền đại diện cho quyền
thuật phong cách thời nhà Minh. Đến Trần Vương
Đ́nh, ông đă rút tỉa ra 29 thế trong đó
để tạo nên Thao lộ Thái Cực Quyền.
Trong lư luận Thái Cực quyền có thể thấy
những ngôn từ của “ Quyền phổ“ và “
Quyền kinh tổng ca“ của họ Trần cũng
chịu sự ảnh hưởng từ “ Quyền
Kinh“ của Thích Kế Quang.
2) Sự kết hợp có
tính chọn lọc và sáng tạo.
Thái Cực Quyền đ̣i hỏi lấy ư niệm
để chỉ dẫn động tác, khí luôn
trầm ở Đan điền, tâm tĩnh, thân
thả lỏng, kết hợp thủ nhăn, bộ pháp
để vận động. Trong quá tŕnh vận
động, hô hấp phải luôn đều đặn,
áp dụng h́nh thức thở bụng nhằm
thống nhất trong và ngoài cơ thể.
3) Vận dụng học
thuyết Kinh Lạc của y học cổ truyền và
học thuyết Âm Dương của triết học
cổ điển.
Thái Cực Quyền yêu cầu “ lấy ư dẫn
khí,
lấy khí vận thân“. Nội khí phải được
phát xuất từ Đan điền, lực phát ra
chủ yếu từ eo, cho nên eo luôn được chú
trọng. Thủ pháp chủ yếu của Thái Cực
Quyền gồm có: Bằng (đẩy), Loát (kéo),
Tễ (đẩy bằng cánh tay), Án (ấn)Thái (giật),
Liệt (chặn), Trừu (huưch), Hạo (dựa).
Return
to main page