WELCOME TO VIETNAMESE SHAOLIN KIENANDO KUNGFU

           

Click here to learn more about shaolin kungfu     

  INTRODUCING     HOME      CONTACT US  LINKS CHI KUNG    ZEN   TAI CHI CHUAN    SHAOLIN  KUNGFU    STYLES   VIETNAMESE KUNGFU HISTORY   SHAOLIN KUNGFU FORMS 
 

 

 

 

Kienando History
Kienando Goal
Kienando System
Enroll&Registration
New class
Class at CSUN
Corbin studio
Schedule
New books
Self-defense
Meditation
Performing
Kienando ca
Kienando forms
Practicing
Styles
Links
Home
Access to website
Free Hit Counter
emailed.gif (14893 bytes)

 

Guest book  

 

  KIENANDO-FORMS 


  
Luong Nghi Kiem

Thanh Long Dao
  Tuc Quyen
 Hong Hoa Quyen
 
 Le Hoa Thuong
    Cuong Dao

 
  Phuc Ho Quyen

   Loi Vu Quyen

 Board breaking



 

 

 

 

 

Lược sử vơ thuật Việt Nam(Phần cuối)

IV. THỜI KỲ CẬN ĐẠI (1802 - 1975)

Năm 1802, vua Gia Long thống nhất sơn hà vẫn theo gương xưa của chúa Săi Nguyễn Phúc Nguyên (1631). Nhà vua cho thành lập xưởng súng đại bác, mở trường bắn huấn luyện voi, ngựa và trường huấn luyện vơ kinh, vơ lâm cho binh sĩ. Ở những nơi hiểm yếu, vua chỉ thị cho lập đồn ải. Tại các cửa bể và đảo, vua cho lập ra pháo đài. Ngoài ra, vua c̣n cho lập ra xưởng đóng tàu đồng, và huấn luyện thủy quân để đề pḥng mặt biển.

Năm 1820, vua Minh Mạng đă chia binh đội ra thành bộ binh, thủy binh, tượng binh, kỵ binh và pháo binh. Bộ binh gồm có kinh binh và cơ binh.

Kinh binh chia làm doanh, vệ, đội. Kinh binh dùng để đóng giữ ở kinh thành hoặc để sai phái đóng giữ ở  các tỉnh. Mỗi doanh có năm vệ, mỗi vệ có mười đội, mỗi đội có năm chục người. Mỗi đội có suất đội và đội trưởng cai quản. Những binh khí của mỗi vệ gồm có hai khẩu súng thần công, hai trăm khẩu súng điểu thương và hai mươi mốt ngọn cờ. C̣n cơ binh là lính riêng của từng tỉnh, cũng được chia ra làm cơ, đội. Cơ th́ có quân cơ, đội th́ có cơ suất đội cai quản.

Tượng quân được chia ra thành từng đội, mỗi đội có bốn chục con voi. Số voi ở kinh thành gồm có một trăm năm chục con. Ở Bắc thành có một trăm mười con. Ở Gia Định thành có bảy mươi lăm con. Ở Quảng Nam có ba mươi lăm con. B́nh Định có ba chục con. Nghệ An có hai mươi mốt con. Tại Quảng B́nh, Quảng Ngăi, Thanh Hóa, mỗi nơi đều có mười lăm con. C̣n ở Quảng Trị, Phú Yên, B́nh Thuận, Ninh B́nh mỗi nơi có bảy con.

Thủy quân có mười lăm vệ được chia làm ba doanh, mỗi doanh đều có quan chưởng vệ quân lính, và quan đô thống chỉ huy cả ba doanh.

Ngoài ra, vua Minh Mạng c̣n cho thành lập ra trường Anh Doanh và Giáo Dưỡng Binh để cho các con của quan vơ, từ suất đội trở lên ai muốn t́nh nguyện vào học sẽ được hưởng lương bổng. Việc huấn luyện vơ lâm và vơ kinh do một viên quan đại thần chăm sóc. Để bổ dụng vào ngành vơ học, vua c̣n cho mở ra các khóa thi vơ lâm, tuyển chọn người đậu tú tài, cử nhân và tiến sĩ vơ khoa. Người dự thi vơ khoa đều phải biết chữ nghĩa, v́ sau khi thi xong các bộ môn của vơ lâm, thí sinh c̣n phải dự thi phần vơ kinh, để chứng tỏ khả năng trong cách dùng binh pháp đánh giặc mà trong sách vơ kinh đă ấn định.

Năm 1837, vào thời Minh Mạng thứ 18 vua c̣n định phép cho các kỳ thi vơ lâm như sau:

KHÓA THI HƯƠNG: Trường thứ nhất thi cử tạ, trường thứ hai thi diễn roi côn (trúc mộc), diễn quyền, múa đoản kiểm . Trường thứ ba thi về bắn súng điểu thương (loại súng thời xưa). Nếu thí sinh trúng tuyển cả ba trường, được chấm đậu cử nhân vơ khoa. Nếu thí sinh chỉ trúng tuyển ở trường thứ nhất và trường thứ hai, được chấm đậu tú tài vơ khoa. Sau đó, để sắp hạng cao thấp, các vơ tú, vơ cử c̣n phải dự thi vấn đáp để trả lời những cẩu hỏi có liên quan đến sách vơ kinh và sách Tử Tư. Nếu ai trả lời thông suốt, tên được sắp hạng đứng trước.

KHÓA THI HỘI: Cũng như khóa thi Hương, thi Hội gồm có ba trường. Nhưng ở phần diễn côn roi, thí sinh phải dùng đến côn roi bằng sắt (thiết côn). Thí sinh nào trúng tuyển cả ba trường và giỏi thông chữ nghĩa sẽ được vào kỳ thi đ́nh.

KHÓA THI Đ̀NH: Sau khi được tuyển chọn ở kỳ thi Hội, thí sinh được vào dự khóa thi Đ́nh để làm một bài văn sách, trả lời những câu hỏi về nghĩa lư trong bộ sách vơ kinh, sách Tử Tư, và những binh pháp chính yếu của các danh tướng thời xưa. Những thí sinh được trúng tuyển ở kỳ thi Đ́nh được chấm đậu tiến sĩ vơ khoa. Nếu thí sinh chỉ được trúng tuyển kỳ thi Hội mà không đậu ở kỳ thi ́nh được chấm đậu phó bảng vơ khoa.

Trong thời Pháp thuộc, người Pháp đă gặp phải những sự chống cự oanh liệt của người dân Việt, phần lớn các tổ chức kháng chiến chống Pháp, bắt nguồn từ các nhà lănh đạo vơ thuật. Do đó, để vô hiệu hóa phần nào sức kháng cự của người Việt, chính quyền Pháp đă ra lệnh nghiêm cấm các hoạt động vơ thuật trên toàn lănh thổ Việt Nam. Tuy nhiên, với tinh thần ái quốc và bất khuất của người Việt, các vị vơ cử, vơ gia Việt Nam vẫn âm thầm lén lút dạy vơ cho các thanh thiếu niên để nung đúc tinh thần quật khởi, kháng chiến chống Pháp. Mặc dù với khí giới thô sơ, tầm vong chuốt nhọn, gươm giáo không thể trực diện đối đầu với các súng đạn tối tân của người Pháp nhưng người Việt đă dùng phương pháp du kích, nhiều phen khiến cho chính quyền Pháp kinh hoàng và đă giết được các tướng tài Pháp như tướng Francis Garnier và tướng Henri Riviere tại Ô Cầu Giấy, Hà Nội (Bắc Việt).

Trong các vị lănh đạo chống Pháp, quân Pháp đặc biệt chú ư đến các ông như Phan Đ́nh Phùng, Đinh Công Tráng, Lê Trực, Hoàng Hoa Thám...

Năm 1862 - 1864 Ông Trương Công Định kháng chiến ở G̣ Công và Biên Ḥa.

Năm 1875 ông Nguyễn Hửu Huân (Thủ khoa Huân) nổi lên ở Mỹ Tho và Tân An.

Vào tháng 8/1864 ông Trương Huệ (con ông Trương Công Định) nổi lên ở Tây Ninh.

Vào 8/1917 ông Lương Ngọc Quyến và Trịnh Văn Cấn nổi lên ở nhà lao Thái Nguyên.

Năm 1927 hai ông Nguyễn Thái Học và Nguyễn Khắc Nhu lănh đạo Việt Nam Quốc Dân Đảng nổi lên chống Pháp ở Yên Bái

Năm 1885, ông Quản Hán Nguyễn Văn Bường khởi binh ở Bà Điểm Hốc Môn, Bà Trà, Tân Khánh. Trận đánh nổi tiếng nhất là ở Mười Tám Thôn Vườn Trầu (gọi là Thập Bát Phù Viên) trong đó nghĩa binh bị vây đánh, sau cùng c̣n lại bảy chục người cùng nhau thề đánh cho đến chết. Và họ đă giữ vững lời thề. Từ trận đánh Pháp nổi tiếng này về sau, danh từ "vơ vườn" đă được lưu truyền để nói lên tinh thần vơ dũng của địa phương này. Nếu muốn nói "vơ vườn" là một môn phái vơ thuật người ta cũng không thấy được một tài liệu sách vở nào để chứng minh về nguồn gốc, kỹ thuật căn bản của nó, mà chỉ được nghe nhắc qua lời truyền miệng của các dân địa phương. Có lẽ, đây chỉ là một số đ̣n thế chiến đấu tự vệ của dân địa phương được ảnh hưởng bởi vơ thuật Trung Hoa, bắt nguồn từ năm 1679, tướng Trần Thắng Tài và hơn ba ngàn binh sĩ nhà Minh, bất phục tùng Thanh triều, đă được chúa Nguyễn Hiền Vương cho phép tỵ nạn, khai hoang, lập ấn định cư dọc theo đồng bằng sông Đồng Nai (Biên Ḥa, Hốc Môn). Để chứng minh cho luận cứ trên, chúng tôi c̣n ghi nhận qua lịch sử bởi chiến tích vơ dũng của mười tám thôn vườn trầu vào năm 1782. Tại đây, quan binh Tây Sơn Nguyễn Nhạc đă bị đánh bại, do sự phục kích của đạo binh Ḥa Nghĩa (người Trung Hoa cư ngụ tại 18 thôn Vườn Trầu, theo giúp Nguyễn Ánh).

Vào năm 1911, ngài Mộc Đức Thiền Sư, một trong nhưng vị cố vấn cho Tôn Dật Tiên đă thu nhận bốn đồ đệ người Việt Nam như Trần Tần Chân Nhân, Thiện Tảo Đạo Nhân, Tư Hớn Cư Sĩ, và Thiện Tâm Thiền Sư. Về sau bốn vị này góp công lớn vào việc phát triển ngành thiền tông và vơ lâm tại Việt Nam. Riêng về Thiện Tâm Thiền Sư, tên thật là Nguyễn Văn Sáu, hiệu Đoàn Tâm Ảnh, sinh năm 1900 tại Bạc Liêu, Nam Việt Nam. Sau mười tám năm được theo thầy Mộc Đức Thiền Sư để học vơ lâm và thiền tông tại chùa Phi Lai Tự, miền Bắc Trung Hoa, ông trở về Việt Nam vào năm 1930 mở trường dạy vơ thâu nhận môn đồ. Đồng thời, ông cùng một số nghĩa sĩ âm thầm thành lập đảng Sao Trắng để chống Pháp. Đảng Sao Trắng với tinh thần nghĩa hiệp giúp đỡ dân lành, đă làm cho những tay cường hào ác bá và chính quyền Pháp phải nhiều phen bối rối, tại miền lục tỉnh Hậu Giang, Nam Việt Nam. Năm 1960, để hưởng ứng phong trào thanh niên vơ thuật, ông đă chính thức thành lập Hội Vơ Lâm Việt Nam và sau đó thu nhận được bốn vị đệ tử tâm đắc như Giáo Sư Vũ Đức, Giáo sư Hùng Phong, Giáo Sư Hàng Thanh, và Giáo sư Nguyễn Thiên Tài. Măi đến năm 1970, ông lui về ẩn dật chức vụ Chưởng Môn Phái Vơ Lâm Việt Nam đă được ông chính thức truyền lại cho Giáo sư Vũ Đức (Âu Vĩnh Hiền) để tiếp tục công việc phát triển môn phái. Về sau, để t́m nguồn an lạc nơi chốn thiền, Thiện Tâm Thiền Sư đă trụ tŕ tại chùa Pháp Hoa, Sài G̣n.

Ngoài ra, một số các vị vơ sư Việt Nam lăo thành nổi danh như Thầy Vơ Dựt (1870 - 1958), hiệu là Nam Nghĩa, người làng An Dinh quận B́nh Khê. Thầy Hồ Nhu (1890 - ?) hiệu Hồ Ngạnh người làng Thượng Truyền, quận B́nh Khê giỏi về côn pháp. Thầy Toàn Phong và Thầy Tàu Sáu ở quận B́nh Khê giỏi về quyền cước. Thầy Triệu Thúc Lang ở quận Dương Đông đảo Phú Quốc. Thầy cử nhân Trương Thạch (1880 - ?) ở B́nh Định. Thầy cử nhân Đinh Các (1880 - 196?) người Qui Nhơn. Thầy Năm Soai (1880 - 197?) người Bạc Liêụ Thầy Sáu Khá (1885 - 196?) và các thầy Tư Công, Hai Śnh đều ở Bạc Liêu Vơ sư Huỳnh Kim Hên (1905 - 1980) hiệu là MăT hanh Long người ở Bạc Liêu về sau cư ngụ tại Ḥa Hưng, Sài G̣n. Thầy Hàn Bái sáng tổ hệ phái Hàn Bái. Thầy Vũ Bá Oai (1901 - 28/1/2001) kế nghiệp thầy Hàn Bái thành lập vơ đường Hàn Bái tại Sài G̣n. Thầy Trương Thanh Đăng (1895 - 197?) hiệu Sa Long Cương người tỉnh Phan Thiết, về sau cư ngụ tại Sài G̣n. Thầy Hồ Hợi (1896 - ?) sáng lập Hội Cửu Long Vơ đạo tại Sài G̣n. Thầy Bảy Nếp người quận Cần Đước, Nam Việt Nam về sau là cư sĩ tại tỉnh Gia Định.

Trong thời Pháp thuộc, môn quyền anh được du nhập với kỹ thuật tay nghề đấm giản tiện và rất được sự ngưỡng mộ của quần chúng người Việt. Vào giữa thập niên 1960 - 1970, các vơ sư huấn luyện quyền anh đáng kể như Minh Cảnh, Huỳnh Tiền, Kidemsey, Trần Mộng Lân, Nguyễn Sơn, Lư Huỳnh, Minh Thành, ... Bộ môn quyền anh được hoạt động dưới sự chăm sóc của Tổng Cục Quyền Thuật Việt Nam.

Tổng cục này đă được thành lập vào năm 1956 tại Sài G̣n do sự góp mặt của các vơ sư và vơ sĩ thuộc nhiều môn phái vơ thuật Việt Nam khác nhau.

Ngoài ra vào năm 1960, các vị vơ sư c̣n thành lập Tổng Hội Nghiên Cứu Vơ Học Việt Nam với ước vọng để khảo cứu các ngành vơ thuật Việt Nam. Trong suốt 15 năm (1960 - 1975) thành h́nh, tổng hội này không có một biểu hiện nào đáng được ghi nhận. Phần lớn nổ lực hoạt động vơ thuật Việt Nam trong quảng đại quần chúng đều do công tŕnh của Tổng Cục Quyền Thuật Việt Nam đẩy mạnh, dưới sự yểm trợ của chính quyền thanh niên. Mặc dù có rất nhiều vơ phái Việt Nam hoạt động song song với Tổng Cục Quyền Thuật Việt Nam, nhưng chỉ có vài vơ phái đạt được sự tổ chức một hệ thống vơ đường qui cũ, thu hút được nhiều vơ sinh trên toàn quốc như Hội Vơ Thuật Vovinam, do Vơ Sư Nguyễn Lộc sáng lập, về sau vơ sư Lê Sáng kế nghiệp; hội Vơ Lâm Việt Nam do lăo sư Đoàn Tâm Ảnh (pháp danh Thiện Tâm Thiền Sư) sáng lập, về sau giáo sư Vũ Đức kế nghiệp; Hội Cửu Long Vơ đạo do vơ sư Hồ Hợi sáng lập,...

Năm 1945, sau khi quân đội Nhật Bản thắng Pháp tại Việt Nam, cũng như tinh thần vơ sĩ đạo Nhật vang danh khắp thế giới, môn vơ Nhật nổi danh lúc bấy giờ là môn Nhu đạo (Judo) và Nhu Thuật (Jiu-Jittsu) rất được người Việt Nam hâm mộ. Vị vơ sư người Nhật đầu tiên đến giảng dạy Nhu đạo tại Việt Nam là vơ sư Yonka, về sau lại có các vơ sư Watanabe, vơ sư Ishikawa.

Năm 1948, giáo sư Hồ Cẩm Ngạc trở về nước sau 5 năm du học tại Nhật Bản. Giáo sư Hồ Cẩm Ngạc là người Việt Nam đầu tiên đă tốt nghiệp môn Nhu đạo tại trường Đại học Nhu đạo Kodokan, Nhật Bản. Ngoài ra ông c̣n tốt nghiệp các bộ môn vơ Nhật khác như Karatedo (Không thủ đạo) thuộc trường phái Yosheikan. Vào năm 1956, giáo sư Hồ Cẩm Ngạc đă xuất bản quyển Nhu đạo Tạp Phương. Vào năm 1955, Giáo sư Phạm Lợi từ Pháp về Việt Nam và đă xuất bản quyển Kỹ Thuật Nhu đạo vào năm 1956. Ngoài ra c̣n có một số giáo sư Nhu đạo đáng kể như giáo sư Đặng Thông Trị, giáo sư Phan Văn Quan, giáo sư Thái Thúc Thuần, giáo sư Vương Quang Ba, thượng tọa Thích Tâm Giác. Những vị giáo sư Nhu đạo vừa kể trên đều là những vị đă góp công thành lập Tổng Cục Nhu đạo Việt Nam vào năm 1956. Riêng giáo sư Đặng Thông Trị ngoài môn Nhu đạo, ông c̣n làm giaó sư Aikido đầu tiên đẩy mạnh phong trào Hiệp Khí Đạo tại Việt Nam. Vào năm 1964 bào đệ của giáo sư Trị là giáo sư Tăng Thông Phong thành lập Tổng Cục Hiệp Khí Đạo Việt Nam.
Vào năm 1960 quân đội viễn chinh Đại Hàn đến tham chiến tại Việt Nam, môn vơ Đại Hàn Taekwondo (Thái Cực Đạo) do tướng Choi Hong Hi lănh đạo đă được chính quyền quân đội VNCH yểm trợ phát động môn vơ này trong quảng đại quần chúng. Sau đó Tổng Cuộc Thái Cực Đạo Việt Nam được ra đời do Trung Tá Phạm Văn Cư làm chủ tịch sáng lập. Đến niên khóa 1973 - 1975, đại tá Trần Thanh Điền kế nhiệm chức chủ tịch Tổng Cuộc Thái Cực Đạo Việt Nam. Môn vơ Thái Cực Đạo đă lớn mạnh tại Việt Nam trong cao trào thanh niên khỏe với nhiều vơ phái trăm hoa đua nở.

Căn cứ vào lịch sử tranh đấu Việt Nam, vơ học cổ truyền Việt Nam là một nền tảng căn bản cho quân sự quốc pḥng. Do đó, vơ học đă đóng một vai tṛ rất quan trọng trong vận mạng thịnh suy của đất nước. Kể từ thượng cổ thời đại, vào đời vua Hùng Vương lập quốc, mặc dù con người chưa biết dùng chữ viết để ghi chép lại sự diễn tiến của vơ học nhưng nhờ vào một số di tích của các món binh khí như búa, ŕu, dao, dùi, cào, trống đồng và một số tranh ảnh chiến đấu được khắc vẽ trên những phiến đá tại các vùng đất thuộc Bắc Việt Nam, được t́m thấy bởi các nhà khảo cổ đă nói lên được phần nào khoa vơ học lập quốc của tổ tiên người Việt Nam.Với vốn liếng căn bản khoa vơ học lập quốc đầu tiền, sau đó trong các dịp giao tiếp với lân bang, người Việt đă biết khôn khéo thái nạp cái hay của người để biến chế và đồng hóa và sắc thái riêng biệt của ḿnh. Điển h́nh là sự ảnh hưởng ở nền vơ học Trung Hoa và Ấn Độ xuyên qua các nhà truyền giáo, hoặc các quần binh người Trung Hoa trong thời kỳ một ngàn năm Bắc thuộc. Để rồi sau đó nền vơ học kiến quốc được phát huy trong các triều đại Ngô, Đinh, Lê, Lư, Trần, Nguyễn...Măi đến thế kỷ 17, người Âu Châu đến buôn bán và truyền đạo Thiên Chúa tại Việt Nam, và đến thế kỷ 19, cuộc tranh chấp bằng vơ lực giữa Việt Nam và Pháp bùng nổ, nền vơ học kiến quốc của Việt Nam đă bị vô hiệu hóa trước đạn súng ống tối tân của Pháp. Sau đó, Việt Nam phải chịu đựng hơn tám mươi năm lệ thuộc người Pháp. Trong thời gian tiếp xúc với người Âu Châu, người Việt đă hiểu được rằng sự tiến hóa của nhân loại trên thế giới hiện nay đă bước qua một kỷ nguyên tiến bộ mới trên nhiều phương diện.Cũng như vơ học cổ truyền với gươm giáo làm căn bản, không c̣n là một yếu tố chính yếu thích nghi cho quân sự quốc pḥng nữa, mà đă được thay thế bằng những đạn dược, súng ống tối tân hiên đại hóa quân sự với những kỹ thuật chiến tranh máy móc. Kể từ đó, nền vơ học kiến quốc của Việt Nam không c̣n đóng một vai tṛ chính yếu quân sự trong lịch sử mà đă biến thể trở thành một bộ môn thể thao tự vệ cũng như các bộ môn thể thao thuần túy khác, nhằm mục đích phụng sự cho phong trào khỏe của nước nhà, thêm phần phong phú.

Hết

<< Quay trở lại

                               

                                     

                                     

  

 Practicing at a Temple in Vietnam Shaolin kungfu self-defense

   MOVIES>> short movie sword,stick&kata Kata, Stick&Sword          

 

   Martial Arts Studio  Address7243-7245 Corbin Ave, Canoga Park, CA 91306  

                 THANK YOU FOR VISITING TO KIENANDO

  Guestbook     emailed.gif (14893 bytes) 

 

 


 

 

This web site was created by pptwebmaster.com  has been accessed  times since 06/04/01
 Questions, comments. problems regarding this web site will be directed to [kienandokungfu.com].
    Martial Arts  Address 7243-7245 Corbin Ave, Canoga Park, CA 91306
     
Send Email to: emailed.gif (14893 bytes) info@kienandokungfu.com 
  Copyright © 2001 [Kienando]. All rights reserved. 
    Last modified: Sunday September 09, 2007