|
Lược
sử vơ thuật Việt
Nam(Phần 2)
III.
THỜI KỲ ĐỘC
LẬP TỰ CHỦ
(939-1802 SAU CN)
Năm 939, sau khi Ngô
Quyền thắng trận
Bạch Đằng, đánh
đuổi được
quân Nam Hán và giết
được Thái Tử
Hoằng Thao, Ngô Quyền
đă thật sự
giải phóng cho dân
Việt khỏi ách ngàn năm
đô hộ của người
Trung Hoa, và cũng mở
đường cho các
triều đại Đinh,
Lê, Lư, Trần, Nguyễn
về sau được
tự chủ ở phương
Nam.
Năm 968,
Đinh Bộ Lĩnh sau khi
dẹp xong loạn 12
sứ quân, lên ngôi vua
đạt lại quốc
hiệu là Đại
Cồ Việt, ngài lo
việc tổ chức binh
bị và chỉ thị cho
binh sĩ tập trận
đánh Trường Tiên,
mà sau này dân Việt
gọi là Trung B́nh Tiên hay
roi Quang Trường, để
áp dụng vào việc
chống giặc, giữ ǵn
bờ cơi. Về binh đội,
ngài phân chia ra làm Đạo,
Quân, Lữ, Tốt, Ngũ.
Mỗi Đạo quân có
10 Quân, mỗi Quân có 10
Lữ, mỗi Lữ có 10
Tốt, mỗi Tốt có
10 Ngũ, mỗi Ngũ có
10 người.
Năm 980, vua
Lê Đại Hành nhờ vào
việc tổ chức binh
bị hùng mạnh của
nhà Đinh để
lại mà đă tạo
được nhiều
chiến công hiển hách
trong việc dẹp nội
loạn, cũng như phá
được đại
quân Tống ở phương
Bắc, b́nh được
Chiêm Thành ở phương
Nam. Do đó vua Lê đă
tạo được thanh
thế rất lừng
lẫy.
Năm 1010, Lư
Công Uẩn tiếp nối
nghiệp đế của
nhà Lê để sáng
lập ra nhà Tiền Lư,
truyền ngôi được
chín đời. Lư Công
Uẩn là vị vua rất
giỏi vơ thuật,
xuất thân từ cửa
thiền ngay từ nhỏ
đă theo nhà sư Lư Khánh
Vân làm con nuôi, được
học vơ lâm và đạo
thiền tại chùa Cổ
Pháp. Khi lớn lên nhờ
tài văn vơ mà được
nhà tiền Lê bổ
nhiệm chức Quân
Tả Thần Vệ
Viện Tiền Chỉ Huy
Sứ. Khi lên ngôi, vua Lư Thái
Tổ rất trọng
đăi giới tu hành,
Phật giáo cũng
được chọn làm
quốc giáo, song song
với Thiền tông, nhà
vua cũng phát động
việc huấn luyện môn
vơ lâm cổ truyền cho các
quan viên, quân sĩ, cũng
như các hoàng tử đều
phải luyện tập vơ
lâm ngay từ thuở
nhỏ. Khi lớn lên, các
hoàng tử đều
giỏi vơ lâm và cách dùng
binh. Muốn được
phong vương các hoàng
tử đều phải
đích thân cầm binh
đánh giặc để
lập chiến công.
Năm 1054 -
1072, để gia tăng
hiệu quả về binh
bị, vua Lư Thánh Tông lo
việc định quân
hiệu, chia phân quân đội
ra làm Tả, Hữu,
Tiền, Hậu. Tất
cả là bốn bộ,
hợp lại là một trăm
đội, mỗi đội
đều có lính kỵ và
lính bắn đá c̣n
những phiên binh th́
lập ra thành đội
riêng biệt, không cho
lẫn lộn với nhau.
Binh pháp nhà Lư vào lúc
bấy giờ có tiếng
là giỏi, nhà Tống bên
Trung Hoa đă phải t́m
hiểu thêm. Điều này
cũng làm vẻ vang cho con
dân đất Việt.
Năm 1072 -
1127, vua Lư Nhân Tông c̣n chia
vơ ban ra làm chín phẩm.
Quan đại thần có
Thái Sư, Thái Phó, Thái
Úy,
Thiều Sư, Thiếu Phó,
Thiếu Úy. C̣n phái dưới
có Thống, Nguyên Súy,
Tổng Quản Khu mật
Sứ, Khu Mật Tả
Hữu Sứ, Kim Ngô Thượng
Tướng, Đại Tướng,Tướng,
Chu vệ Tướng Quân...
. Vào thời này, cũng nên
kể đến danh tướng
Lư Thường Kiệt,
một vơ tướng tài
ba thao lược cũng
đă lập được
nhiều chiến công
rực rỡ trong cuộc
dẹp nội loạn, bên
ngoài phá Tống b́nh Chiêm
Thành.
Năm 1125 -
1400, tiếp nối nhà Lư
các vua nhà Trần chú
trọng đến
việc chỉnh đốn
quân binh. Vua Trần Thái Tông
ra luật tổng động
viên, tất cả
những dân trai tráng đều
phải đi lính. Ngài cho
mở nhiều "Giảng
Vơ Đường"
để huấn luyện
vơ lâm cho dân chúng. Nhằm
trông nom binh bị tại
triều đ́nh, vua đặt
ra các chức: Phiêu Kỵ
Thượng Tướng
Quân, Cẩm Vệ Thượng
Tướng
Quân, Kim Ngô Đại Tướng
Quân, Vơ vệ Đại Tướng
Quân, Phó ô Tướng Quân,...
và ở ngoài, có các
chức Kinh Lược
Sứ, Pḥng Ngự Sử,
Thứ Ngự Sử, Quan Sát
Sử, ô Hộ, ô
Thống, Tổng Quản,...
Binh lính được chia
thành Quân và ô, mỗi Quân
có ba chục ô, mỗi ô có
tám chục người
được xếp vào
Quân và Hộ. Binh lính
phải luôn luôn luyện
tập vơ thuật, sẵn
sàng trong t́nh trạng
chiến đấu. Binh
lực của nhà Trần
lúc này rất hùng mạnh,
ba quân tướng sĩ
rất là thương yêu
lẫn nhau. V́ vậy,
đă hơn ba lần
thắng được
giặc nhà Nguyên, đánh
đuổi hơn năm
chục vạn quân Mông
Cổ ra khỏi bờ cơi
vào năm 1284 - 1288, dưới
sự lănh đạo
của Hưng Đạo Vương
Trần Quốc Tuấn, cùng
với sự hợp
lực của các vơ tướng
như Trần Quang Khải,
Trần Quốc Toản,
Phạm Ngũ Lăo đă
chiến thắng trận
Chương Dương .Nguyễn
Khoái, Phạm Ngũ Lăo, Hưng
Vơ Vương Nguyên, Hưng
Hiếu Vương Úy cùng
với Hưng Đạo Vương
đă đánh thắng quân
Nguyên tại trận
Vạn Kiếp, đến
nổi tướng Mông
Cổ là Thoát Hoan thua
phải bỏ chạy
về nước. Trần
Khánh Dư cướp lương
thực của quân Nguyên
tại trận Vân Đồn.
Tại trận Bạch
Đằng, Hưng Đạo
Vương đại
thắng bắt được
Ô Mă Nhi và Trần Nhật
Duật đă phá quân
của Toa Đô ở
trận Hàm Tử Quan.
Đây là những
chiến công rất
hiển hách, vẻ vang
nhất trong lịch sử
v́ với một đế
quốc Mông Cổ lớn
mạnh nhất vào
thời bấy giờ, có
một binh lực viễn
chinh hùng mạnh, đă
từng làm mưa làm gió
tại các chiến trường
lớn trên thế giới,
đă chiến thắng thôn
tính được
nhiều dân tộc lớn
trên thế giới như
đă thôn tính được
nước Trung Hoa,
chiếm được Tây
Bá Lợi Á, xâm lăng
Trung Âu, uy hiếp
được Áo và Đức...
Thế mà khi đến
bờ cơi Việt Nam,
họ phải nếm mùi
thật trận hơn ba
lần. Hơn ba lần
chiến thắng vinh quang
của dân tộc Việt
đối với kẻ thù
số 1 của loài người
trong thời đó, đă
chứng tỏ được
dân tộc Việt là
một dân tộc oanh
liệt đứng hàng
đầu trên thế
giới.
Trong lúc chống với
giặc Mông Cổ, Hưng
Đạo Vương
Trần Quốc Tuấn
đă soạn ra bộ
"Binh Thư Yếu Lược".
Đây là bộ sách
tập hợp các phương
pháp dùng binh đánh
giặc của những
danh gia trên thế giới
để huấn luyện
cho quân sĩ.
Năm 1400,
sau khi cướp được
ngôi nhà Trần, Hồ Quư
Ly lo chỉnh đốn
việc binh bị để
đề pḥng chống
với giặc Minh. Hồ
Quư Ly bắt dân kê khai
hộ tịch rất
cẩn thận rồi
tuyển dân vào làm lính
để gia tăng số
binh sĩ, và chia quân đội
ra làm bộ binh, và
thủy binh. Ngoài ra c̣n thành
lập bốn kho quân trang
quân dụng, và tuyển
dụng người có
kỹ thuật vào làm
việc ở xưởng
sản xuất binh khí.
Về
thủy binh, để
đề pḥng giữ
mặt sông và biển,
Hồ Quư Ly cho làm ra
những chiến thuyền
lớn, ở trên có sàng
đi, ở dưới cho
người chèo chống,
thật là tiện lợi
trong việc chiến đấu.
Ở các cửa bể và
nơi hiểm yếu
của các sông lớn,
Hồ Quư Ly cho người
lấy gỗ đóng
cọc để đề
pḥng quân giặc. Việc
quân chế ở Nam và
bắc được phân
chia ra làm mười hai
vệ, Đông và Tây
được phân ra làm tám
vệ. Mỗi vệ có mười
tám đội, mỗi
đội có 18 người. Đại
quân có ba chục đội,
trung quân có hai chục
đội. Mỗi doanh có
mười lăm đội,
mỗi đoàn có mười
đội. C̣n những
cẩm vệ chỉ có 5
đội và một người
đại tướng
thống lănh.
Năm 1418, B́nh
Định Vương Lê
Lợi cùng với các nghĩa
sĩ sau nhiều năm
gian lao thao luyện đứng
lên khởi nghĩa ở
đất Lam Sơn. Măi
đến năm 1427, ngài
mới đuổi
được quân nhà Minh
ra khỏi bờ cơi
Việt Nam.
Năm 1428 Lê
Lợi lên ngôi vua, trong các
vị có công lao lớn
theo giúp vua, đáng kể
nhất về quan văn là
ông Nguyễn Trăi trong
việc tham mưu, về
quan vơ có đại tướng
Lê Vấn và nhà sư Sa Viên
trong việc huấn
luyện vơ dũng cho binh sĩ.
Riêng về nhà sư Sa Viên,
hiệu là Sơn Nhân người
ở tỉnh Sơn La,
Bắc Việt, vào năm
1407 ngài theo quy y học
đạo tại chùa
Huyền Thiên, tỉnh Sơn
Đông Trung Hoa. Năm 1415,
ngài về nước theo
giúp vua Lê Lợi trong
việc huấn luyện vơ
công cho các nghĩa sĩ.
Đến năm
1428, vua Lê Lợi cho mở
ra những kỳ thi "Minh
Kinh Khoa" bắt buộc
các quan văn vơ, từ
tứ phẩm trở
xuống phải dự thi,
nghĩa là quan văn
phải vào kinh thi sử,
quan vơ phải thi về vơ
kinh. Nhà vua c̣n mở
rộng các khóa thi Minh Kinh
cho dân chúng, để kén
chọn nhân tài, ẩn sĩ
ra giúp nước. Nhân vào
cơ hội phát động
vơ thuật của vua Lê,
thầy Sa Viên đă thành
lập trường
huấn luyện vơ
thuật, đặt tên là
"Trường Vơ B́nh
Định" để
tưởng nhớ đến
công lao của B́nh Định
Vương Lê Lợi,
đă có công đánh đuổi
quân Minh mang lại thanh b́nh
cho xứ sở.
Năm 1460,
vua Lê Thánh Tông cho mở
khoa thi Tiến sĩ đầu
tiên. Mỗi ba năm ngài
cho mở kỳ thi vơ để
tưởng thưởng
quân sĩ và kén chọn nhân
tài vơ dũng. Vào thời
bấy giờ, nhiều vơ
sinh của trường vơ
B́nh Định đă
được trúng
tuyển, cho nên danh từ
vơ phái B́nh Định
đă được dân
chúng biết nhiều đến
kể từ đó.
Về binh
bị, vua Lê Thánh Tông c̣n
chỉ thị cho các quan
Tổng Binh phải chăm
lo giảng tập trận
đồ, thao luyện binh
sĩ. Ngài cho đổi
lại năm vệ thành năm
Phủ: Trung Quân Phủ,
Nam Quân Phủ, Bắc Quân
Phủ, Đông Quân
Phủ, Tây Quân Phủ.
Mỗi phủ có sáu
vệ, mỗi vệ có năm
hay sáu sở, mỗi
sở có bốn trăm người.
Quân sĩ của năm
phủ có khoảng sáu
hoặc bảy vạn người.
Ngài c̣n đặt ra ba mươi
mốt điều quân
lệnh để tập
thủy trận, bốn mươi
hai điều để
tập bộ trận.
Năm 1679, vào
thời Trịnh Nguyễn
phân tranh, ở miền Nam
nền vơ học Việt
Nam c̣n chịu ảnh hưởng
vào các vơ phái của người
Trung Hoa như Thiếu Lâm
Nam và Bắc phái, Vơ Đang,
Nga Mi, Không Động,
Bạch Hạc, Bát Quái Chưởng,...
xuyên qua các quan binh của
nhà Minh bất phục tùng
Thanh Triều đến
khai hoang lập ấp,
định cư răi rác trên
các vùng đất cận
Nam. Do đó, về sau người
ta c̣n được nghe
nhắc đến
những danh từ như Vơ
Tiều, Vơ Hẹ, Vơ
Quảng, Vơ Hải Nam, Vơ
Phúc Kiến,... (để
chỉ các môn vơ do các người
Trung Hoa, gốc thuộc các
địa phương khác
nhau). Đến đây, chúng
tôi xin nhắc lại
một quan điểm chính
trị của chúa
Nguyễn Hiền Vương,
với ư định
mở mang bờ cơi về
miền Nam, cho nên chúa
Nguyễn đă cho phép các
tướng lănh cùng hơn
ba ngàn binh sĩ nhà Minh
bất phục tùng Thanh
Triều đến tỵ
nạn, và tiện dịp,
dùng họ để khai
hoang, lập ấp tại
các vùng đất cận
Nam, rồi dần dần xâm
chiếm các vùng đất
của người Chân
Lạp.
Về sau
những vùng đất
khai hoang, lập ấp này
đă tạo nên những
thành phố dân cư trù
phú, sự thịnh vượng
đáng kể nhất là
việc sản xuất lúa
gạo đă tạo nên
một nền kinh tế
lớn mạnh ở
miền Nam. Nền kinh
tế này đă giúp ích
rất nhiều cho chúa
Nguyễn trong công cuộc
thống nhất sơn hà.
Trong các tướng lănh nhà
minh đến khai hoang
định cư, đáng
kể nhất là tướng
Trần Thắng Tài và Dương
Ngạn Lịch. Vào năm
1679, Trần Thắng Tài
đă khai hoang tại Biên
Ḥa và dọc theo các vùng
đất thuộc đồng
bằng sông Đồng Nai.
C̣n Dương Ngạn
Lịch lập ấp
tại Mỹ Tho, và các vùng
đất thuộc đồng
bằng sông Cửu Long. Năm
1680, Mạc Cửu định
cư tại Hà Tiên và vùng
đất dọc theo
vịnh Xiêm La (Thái Lan),
Rạch Giá, Cà Mau.
Năm 1706, vào
đời vua Lê Dụ Tông,
ở miền Bắc chúa
Trịnh Cương cho
mở trường
huấn vơ, đặt quan
giáo thụ để
dạy cho con cháu các quan vơ
về môn vơ kinh chiến lược.
Cứ mỗi tháng một
lần tiểu tập. Ba
tháng một lần đại
tập. Mùa xuân và mùa thu
th́ tập vơ. Mùa đông
và mùa hạ th́ thập vơ
kinh (là binh thư chiến
lược và chiến
thuật, áp dụng
những phương pháp dùng
binh đánh giặc).
Kể từ đó mà danh
từ vơ kinh mới
được phổ thông
trong quần chúng. Mỗi năm
có một kỳ thi vơ.
Để tham dự vào
kỳ thi vơ, thí sinh
lần lượt phải
qua các bộ môn như
bắn cung, múa giáo, múa gươm,
bắn cung trong lúc phi
ngựa, và bắn cung trong
lúc chạy bộ. Sau cùng,
thí sinh phải qua kỳ
thi vấn đáp về nghĩa
lư trong sách vỡ thánh
hiền để xét
về học lực và
những phương lược
trong sách vơ kinh để xét
về tài năng.
Năm 1740,
Trịnh Doanh cho lập vơ
miếu ở chánh vị có
bàn thờ Vũ Vương,
Khương Thái Công, Tôn Vơ
Tử, Quan Tư,... Ở
phía sau có bàn thờ
Trần Hưng Đạo,
và lập miếu riêng
thờ Quan Công. Mỗi năm
vào mùa xuân và thu, vua cho
mở cuộc tế
lễ tại vơ miếu.
Hết phần 2
phần
3
|