Lược
sử vơ thuật
Việt Nam
Kể
từ ngày Hồng Bàng
lập quốc cho
đến nay, nước
Việt Nam đă có
gần năm ngàn năm
lịch sử (kể
từ năm Nhâm
Tuất 2879 trước
CN), trải qua mười
tám đời vua Hùng
Vương cho đến
các triều đại
Ngô,Đinh, Lê, Lư
Trần, Nguyễn,...
nước Việt
Nam đă chịu
biết bao nỗi thăng
trầm lịch
sử của các
thời thịnh
trị và loạn
lạc để
giữ vững đất
nước, tự
vệ chống
ngoại xâm phương
Bắc và mở mang
bờ cơi lấn
chiếm về phương
Nam, tổ tiên
Việt Nam cũng
đă khéo léo
phối hợp trong
việc xử "VĂN"
dùng "VƠ'",
để tạo nên
được
một dăy giang san
cẩm tú như ngày
hôm nay. Do đó,người
xưa đă có câu:
Văn
quan cầm bút an thiên
hạ,
Vơ tướng đề
đao định thái
b́nh.
Qua
hai câu trên, chứng
tỏ rằng người
xưa chẳng
những học văn
mà c̣n chú trọng
đến việc rèn
luyện vơ thuật
để chống
giặc, dẹp
loạn, nhằm mang
lại thanh b́nh cho
xứ sở. Nh́n
chung vào toàn bộ
lịch sử tranh
đấu của dân
tộc Việt Nam,
nền vơ học
Việt Nam đă
đóng một vai tṛ
rất quan trọng,
trong vận mạng
thịnh suy của
đất nước.
Bởi v́, những
vị anh hùng dân
tộc, phần
lớn đều
xuất thân từ
giới vơ học,
đă tiên phong mang tài
thao lược vơ dũng
và vơ trí để góp
công vào cuộc
lập quốc và
kiến quốc. Do
đó, để t́m
hiểu lịch
sử vơ học
Việt Nam, chúng tôi
xin được căn
cứ trên bối
cảnh lịch
sử và thứ
tự thời gian,
trong bộ "Việt
Nam sử lược",
của học
giả Trần
Trọng Kim làm căn
bản, để phân
chia lịch sử vơ
học Việt Nam ra
làm bốn thời
kỳ chính yếu như
sau: Thời thượng
cổ, thời
kỳ Bắc
thuộc, thời
kỳ độc
lập tự chủ
,
và thời kỳ
cận đại.
I. THỜI THƯỢNG
CỔ (2879 - 110 TRƯỚC
CN)
Căn
cứ vào lịch
sử tiến hóa
của nhân loại,
vơ học đă có
một nguồn
gốc sâu xa trong quá
khứ, từ khi con
người c̣n
sống trong các hang
động, chỉ
biết ăn
sống thịt thú
rừng, cây cỏ, và
sự sinh hoạt c̣n
quá phôi thai, rời
rạc.Đó là
thời tiền
sử, theo các nhà
khảo cổ
học, thời
tiền sử
được chia ra
làm bốn thời
kỳ chính: Thời
cựu thạch (thời
đá đẽo),
thời trung thạch
(thời đá mài),
và thời kim khí.
Trong
thời cựu
thạch (đá đẽo),
khởi đầu v́
bản năng sinh
tồn, trong cảnh
sống chống
chọi với thiên
nhiên, mà con người
đă biết
vận dụng
sức mạnh lao
động của
thể xác để
tự vệ và tranh
đấu với các
loại vật
sống chung quanh
ḿnh.
Từ đó, các
động tác và các
dụng cụ thô sơ
dùng làm khí giới,
để chiến
đấu của
thời khai nguyên
đă được
chớm nở.
Mặc dù, trong
thời tiền
sử con người
chưa biết dùng
chữ viết để
ghi chép lại
những biến
cố xảy ra trong
cuộc sống hàng
ngày, nhưng các nhà
khảo cổ cũng
đă t́m hiểu
được
sự sinh hoạt
của nhân loại vào
thời xa xưa qua
những di tích c̣n
để lại.
Riêng
tại Việt Nam,
những di tích
thuộc vào thời
cựu thạch (đá
đẽo) như các
món binh khí: búa, ŕu,
dao, nạo, dùi,
cào,...
làm bằng loại
đá đẽo
đă được
các nhà khảo
cổ Việt Nam t́m
thấy tại các vùng
đất Thanh hóa,
Lạng Sơn, Vĩnh
Phú, thuộc miền
Bắc Việt Nam.
Ở hang Thượng
Phú thuộc miền
Trung Việt Nam, nhà
khảo cổ M.
Colani đă t́m
thấy được
những h́nh ảnh
khắc vẽ trên vách
đá, giống như
một người
thợ săn tay
đang cầm cây lao
để nhắm hướng
lên một con chim
đang bay lượn
trên không trung, trong
khi ở bên dưới
là h́nh ảnh
của những
chiếc đầu có
sừng. Ngoài ra, xuyên
qua những bức
tranh họa trên da thú
rừng hoặc
được
khắc trên những
phiến đá
được lưu
trữ tại các
viện bảo tàng
Việt Nam, chúng ta c̣n
nhận thấy
được h́nh
ảnh của
những chiếc
thạch côn trong
thời đại
đá đẽo.
Với những di tích
vừa kể trên cũng
đă nói lên
được
một phần nào
sự liên quan đến
khoa chiến đấu
của tổ tiên
Việt Nam trong
thời đó.
Đến
thời đại
trung thạch (đá
mài) con người
vẫn nhờ vào vơ
công của ḿnh để
làm phương
tiện mưu sinh căn
bản cho cá nhân và
gia đ́nh, rồi
dần dần
với đà
tiến bộ
biết cách trồng
trọt, nuôi , con người
đă tạo
được
sự bảo đảm
về mặt
thực phẩm,
rồi sự sinh
sản gia tăng, con
người mới
bắt đầu
sống định cư,
thành tập đoàn
dưới h́nh
thức bộ
lạc. Theo quan điểm
của các nhà
khảo cổ
học đă ghi
nhận, đây là
thời kỳ tân
thạch, con người
bắt đầu
biết sống
tập đoàn và có
chút ít sống văn
minh, tiến bộ
lần tới
thời đại
kim khí.
Theo
các sử gia và các
nhà khảo cổ
học Việt Nam, vào
đời vua Hùng Vương
chính là thời đại
kim khí cực
thịnh, tổ tiên
người Lạc
Việt đạt
được
một sự
tiến bộ
lớn lao về phương
diện kỹ
thuật và mỹ
thuật. Tổ tiên
Việt Nam đă t́m
được các
quặng mỏ đồng,
sắt, ... và
biết cách áp
dụng phươngpháp
luyện kim (những
kỹ thuật pha
chế thành hợp
kim) để sản
xuất ra các
dụng cụ và binh
khí sắt bén như:
ŕu đồng,
trống đồng,
đồng côn,
thiết côn, dao, búa,
cào bằng sắt
cho các vị Lạc
tướng và binh sĩ
dùng để đánh
giặc.
Trong
những di tích đào
được ở
các vùng đất núi
Việt Nam, người
ta nhận thấy có
những món binh khí
bằng kim loại
rất là mỹ
thuật như ŕu
đồng và
trống đồng.
Ŕu
đồng là
một dụng
cụ để
chặt chém, và cũng
là một loại
binh khí dùng để
đánh giặc. Trên
những ŕu đồng
này, phần lớn
đều được
trạm trổ h́nh
kỷ hà, hoặc là
những h́nh ảnh
sinh hoạt của
con người
thời đó.
Những h́nh vẽ
thường là h́nh
ảnh bơi
thuyền, nhảy múa,
săn bắn , và
những động
tác đấu vơ.
Trống
đồng là
một loại
nhạc cụ dùng
để tạo ra
những âm thanh ḥa
tấu trong những
buổi lễ, đặc
biệt trong thời
vua Hùng Vương
đă biết dùng
trống đồng
làm một loại
binh khí bằng âm
thanh, để khích
động tinh
thần tướng
sĩ, cũng như
ra hiệu lệnh cho
binh sĩ trong lúc
đánh nhau. Loại
trống đồng
này đă được
t́m thấy rất
nhiều tại các vùng
đất thuộc các
tỉnh miền
Bắc Việt Nam như
Thanh Hóa, Bắc Ninh,
Cao Bằng, Hà Nam, Hà
Nội, Ḥa B́nh, Yên
Bái, Hải Dương,
Nghệ An... Trên
mặt trống đồng
có trạm vẽ h́nh
ảnh và sự sinh
hoạt của
thời đó
rất là đẹp
đẽ. Điều
này đă chứng
tỏ được
tinh thần mỹ
thuật của
tổ tiên Việt
Nam đă bước
tiến rất cao xa.
Một
di tích khác mà
hiện nay c̣n lưu
lại tại
tỉnh Phúc Yên (Bắc
Việt) đó là thành
Cổ Loa, với
kiến trúc cổ kính
đầy tính cách
quân sự, ṿng thành
xoắn theo h́nh trôn
ốc, với sự
bố trí rất
thuận lợi cho
việc pḥng thủ,
chống giặc
từ bên ngoài. ây cũng
là một di tích
đă nói lên
được
một khoa vơ học
quân sự có tổ
chức trong triều
đại An Dương
Vương (257 - 207
trước CN),
với năm mươi
năm làm vua, sau khi
Thục Phán đă
đánh bại vua Hùng
Vương thứ 18
để đổi
tiên nước
từ Văn Lang thành
nước Âu
Lạc.
II.
THỜI KỲ
BẮC THUỘC (207
TRƯỚC CN ĐẾN
939 SAU CN)
Sau
khi đánh bại
được vua An
Dương Vương,
Triệu Đà là
một vị quan úy
ở quận Nam
Hải liền sát
nhập Nam Hải vào
nước Âu
Lạc lập thành
một nước
tự chủ, đặt
tên là Nam Việt, làm
vua được năm
đời. Đến
năm 111 trước
CN, nhà Hán bên Trung Hoa
đánh chiếm nước
Nam Việt rồi
đổi thành Giao
Chỉ Bộ (Giao
Châu)
đặt quan cai
trị như các châu
quận của nước
Trung Hoa.
Vào
năm 40 sau CN, hai
chị em Trưng
Trắc và Trưng
Nhị người
huyện Yên Lăng,
tỉnh Phúc Yên,
đầu tiên
cầm gươm cưỡi
bạch tượng,
điều khiển
nghĩa quân đánh
đuổi quan quân
Thái Thú Tô Định,
và chiếm được
sáu mươi lăm
thành tŕ, rồi hai bà
lên làm vua dành
quyền độc
lập, giải phóng
nước nhà ra
khỏi ách đô
hộ của người
Trung Hoa được
ba năm. Sự
kiện này đă
viết lên được
một trang vơ sử
oai hùng cho dân tộc
Việt Nam nói chung, và
cho nữ giới
Việt Nam nói riêng.
Măi
đến năm 248
sau CN, noi gương
hai bà Trưng, bà
Triệu Ẩu, người
huyện Nông Cống
tỉnh Thanh Hóa
cỡi bạch tượng
mặc áo giáp vàng, cùng
với một ngàn
nghĩa quân đứng
lên chống với
quân Thái Thú Lục
Dận, cầm
cự một
thời gian ngắn,
quân của bà
chống cự không
lại, bà đành
tự tử.
Đây là một
điểm son
thứ hai cho nữ
giới trong lịch
sử Việt Nam.
Năm
542, Lư Bôn, một
vị anh hùng dân
tộc đă đứng
lên đánh đuổi
quân Trung Hoa để
làm vua, dựng nên
nghiệp nhà Tiền
Lư. Đến năm
602, Lư Phật Tử
thuộc hậu Lư
Nam Đế v́
thế yếu nên xin
hàng phục vua nhà
Tùy.
Kể từ đó,
Giao Châu lại
lệ thuộc nước
Trung Hoa lần
thứ ba. Măi cho
đến năm 939
sau CN, người
Việt mới dành
lại được
quyền tự
chủ.
Vào
thế kỷ thứ
hai, song song với
việc du nhập các
tôn giáo Phật,
Khổng, Lăo và
Việt Nam, ngành vơ
học từ Ấn
Độ và Trung Hoa
cũng được
các vị thiền sư,
đạo sĩ mang
đến qua hai con
đường
thủy và đường
bộ do hai cách
được ghi
nhận như sau:
Do
các đạo sĩ
Trung Hoa sang đất
Giao Châu (Bắc
Việt Nam) để
lánh nạn v́ năm
189 sau CN, sau khi vua Hán
Linh đế mất,
nước Trung Hoa có
nhiều loạn
lạc. Nhân cơ
hội này các vị
đạo sĩ
đă giới
thiệu đạo
Khổng và Lăo cũng
như các phương
pháp thể dục dưỡng
sinh, thổ nạp chân
khí (tức là cách
luyện khí). Trong
số đó có ngài
Mâu Bác (Meou-Po)
rất tinh thông tam
giáo,
về sau ngài phát tâm
theo Phật giáo.
Do
các vị thiền sư
Ấn Độ sang
đất Giao Châu (Bắc
Việt Nam) để
truyền báo đạo
Phật, hoặc có
một số ghé
ngang qua Giao Châu, trước
khi sang Trung Hoa vào
thế kỷ thứ
ba. Trong số các
vị thiền sư
Ấn Độ
được ghi
nhận như Chí Cương
Lương (Tche-Kiang
Leang), Khương Tăng
Hội (K'ang Seng Houei),
Ma Ha Kỳ Vực (Marjivaka
ha La Jivaka)... Vào năm
247, vua Ngô Tôn
Quyền thấy ngài
Khương Tăng
Hội thi triển
nhiều phép lạ
đem ḷng tín
phục và xây chùa
ở thành Kiến
Nghiệp (Nam Kinh bây
giờ) để ngài
tu tŕ và giảng
dạy Phật
học. Trong sách
"Cao Tăng
Truyện" có ghi:
"Ông Ma Ha Kỳ
Vực gốc ở
Ấn Độ,
đi du lịch các nước,
đến Founan theo
đường Giao
Châu và Quảng Châu
(bắc Việt và
Quảng Đông bây
giờ), đến nơi
nào ngài cũng làm phép
lạ. Khi đến
Tương Dương,
ngài muốn qua đ̣
nhưng người
lái đ̣ thấy ngài
quần áo rách rưới
không cho xuống. Nhưng
đến khi đ̣
ngang cập bến,
mọi người
đều lấy làm
lạ v́ thấy ngài
đă ở bên này sông
rồi."
Vào
thời kỳ này,
mặc dù vơ học
đă được
mang đến do các
vị thiền sư,
đạo sĩ nhưng
vẫn chưa
được
phổ biến sâu
rộng trong dân gian.
Măi
đến năm 580,
vị thiền sư
T́ Ni a Lưu Chi (Vinitaruci)
từ Tây Trúc đă
chính thức mang
đến Việt
Nam ngành đạo
thiền tông đầu
tiên ở nước
Việt Nam, tại chùa
Pháp Vân (nay thuộc
tỉnh Bắc Ninh),
truyền được
19 đời (580 -
1216). Năm 820,
vị sư Trung Hoa là
ngài Vô Ngôn Thông
đến chùa
Kiến Sơ (Bắc
Ninh) lập nên
thiền phái thứ
hai, truyền
được 14
đời (820 - 1221).
Kể
từ đó, các môn
vơ lâm cổ
truyền từ
Ấn Độ cũng
như các môn
Thiếu Lâm Nam và
Bắc phái của ngài
Bồ Đề
Lạt Ma từ Trung
Hoa bắt đầu
xuất hiện
tại Việt Nam.
Tiep
theo