WELCOME TO VIETNAMESE SHAOLIN KIENANDO KUNGFU

           

Click here to learn more about shaolin kungfu     

  INTRODUCING     HOME      CONTACT US  LINKS CHI KUNG    ZEN   TAI CHI CHUAN    SHAOLIN  KUNGFU    STYLES   VIETNAMESE KUNGFU HISTORY   SHAOLIN KUNGFU FORMS 
 

 

 

 

Kienando History
Kienando Goal
Kienando Sysytem
Enroll&Registration
New class
Class at CSUN
Corbin studio
Schedule
New books
Self-defense
Meditation
Performing
Kienando ca
Kienando forms
Practicing
Styles
Links
Home
Access to website
Free Hit Counter
emailed.gif (14893 bytes)

 

Guest book  

 

  KIENANDO-FORMS 


  
Luong Nghi Kiem

Thanh Long Dao
  Tuc Quyen
 Hong Hoa Quyen
 
 Le Hoa Thuong
    Cuong Dao

 
  Phuc Ho Quyen

   Loi Vu Quyen

 Board breaking



 

 

 

 

 

Lịch sử phát triển của Thiếu Lâm Quyền
Lược sử vơ thuật Thiếu Lâm xua va nay

 Vơ thuật Thiếu Lâm thời kỳ phong kiến
Vơ thuật Thiếu Lâm là một trong những môn phái vơ thuật nổi tiếng Trung Hoa. Lịch sử vơ thuật Thiếu Lâm có từ lâu đời và có sức ảnh hưởng sâu rộng, nó là bộ phận cấu thành quan trọng của vơ thuật truyền thống Trung Quốc.Có thể nói “Thiếu Lâm quyền”, “Thiếu Lâm côn” có vai tṛ trọng yếu, to lớn trong lịch sử vơ thuật Trung Hoa.

Vơ thuật Thiếu Lâm khởi nguồn từ Tung Sơn Thiếu Lâm Tự. Thiếu Lâm Tự nằm dưới chân núi Ngũ Nhũ Phong trong quần thể thiếu thất Tung Sơn thuộc huyện Đăng Phong – Tỉnh Hà Nam – Trung Quốc. Thiếu Lâm Tự được xây dựng vào năm thứ 19 Thái Ḥa – Triều đại Bắc Ngụy ( tức năm 495 sau CN), do Hiếu Văn Đế ban đất cho nhà sư Bạt Đà đến từ Ấn Độ xây dựng nhằm mục đích truyền đạo Phật.

Sau khi trụ tŕ Thiếu Lâm Tự, Bạt Đà đại sư tiến hành thâu nhận đệ tử, trong số đó có những thanh niên biết vơ thuật được thế độ thành ḥa thượng. Thiền sư Bạt Đà có công đóng góp rất lớn đối với việc xây dựng Thiếu Lâm Tự, dịch kinh Phật, truyền thụ Phật pháp. Trong Thiếu Lâm quyền phổ c̣n ghi chép về Thiền trượng và nhất lộ Đại đao của thiền sư Bạt Đà

Vào năm thứ 3 Hiếu Xương triều đại Bắc Nguỵ (năm 527), đại sư Bồ Đề Lạt Ma từ Ấn Độ đến Thiếu Lâm Tự truyền thụ Phật giáo Thiền Tông, tĩnh toạ tu tâm suốt 9 năm ṛng, được coi là sư tổ của Phật giáo Thiền Tông Trung Quốc.Vào thời điểm đó, khi tĩnh toạ không tránh khỏi gân cốt mỏi mệt, hơn nữa lại ở nơi núi cao rừng sâu, chịu đựng cái rét và sự tấn công của các loài thú dữ. Để kháng cự lại những yếu tố bất lợi này, Đạt Ma sư tổ đă biên soạn ra “Hoạt thân pháp” để truyền thụ cho các đệ tử nhằm tập luyện, thư giăn gân cốt, chính phương pháp này là định h́nh ban đầu của “Thiếu Lâm Quyền”. Ngoài ra, ông c̣n sử luyện dụng kiếm, côn, trượng..người đời sau c̣n gọi là Đạt Ma trượng, Đạt Ma kiếm. Sau này chính ông đă mô phỏng các động tác của mộ số loài chim, thú, kết hợp với “Hoạt thân pháp” tạo thành La Hán Thập Bát Thủ. Đến đời nhà Nguyên, có đại sư Bạch Ngọc Phong, Giác Viễn nghiên cứu, chỉnh lư, phát triển thành Thất Thập Nhị Thủ.

Cuối triều nhà Tuỳ đầu nhà Đường, nhằm bảo vệ sự an toàn cho Thiếu Lâm Tự, sư tăng tổ chức đội ngũ, tập hợp tăng nhân tổ chức luyện vơ, rèn luyện sức khỏe. Sau này khi các vơ tăng tham gia thêm vào các hoạt động chính trị, quân sự của nhà nước phong kiến Trung Hoa th́ vơ thuật Thiếu Lâm đă từng bước được phát triển thêm, cụ thể là tổ chức và huấn luyện vơ tăng một cách quy củ, quanh năm suốt tháng luyện tập không ngừng nghỉ.

Nguyên tướng nhà Tùy là Vương Thế Xung dụng binh xưng đế tại Lạc Dương, phái cháu là Vương Nhân Tắc đến thảo phạt Thiếu Lâm Tự, xâm phạm đất đai của Thiếu Lâm Tự. Thiếu Lâm Tự cắt cử 13 đại vơ tăng hỗ trợ vua Đường là Lư Thế Dân dẹp tan quân của Vương Nhân Tắc, b́nh định Vương Thế Xung. Sau sự kiện này Lư Thế Dân ban thưởng hậu hĩnh cho Thiếu Lâm tự, vơ thuật Thiếu Lâm càng được khẳng định và công nhận.

Đầu thời kỳ nhà Đường, tuy vơ tăng Thiếu Lâm Tự nổi tiếng v́ vơ thuật nhưng vơ thuật Thiếu Lâm vẫn chưa định h́nh một cách có hệ thống, nguyên nhân là vơ tăng vẫn luyện tập vơ thuật truyền thống Trung Hoa.

Nửa sau thời nhà Đường, cùng với sự xác lập địa vị tổ đ́nh Phật giáo Thiền Tông của Thiếu Lâm Tự, Thiếu Lâm Tự trở thành trung tâm Thiền học.

Đến thời nhà Tống, tuy không có nhiều ghi chép về chuyện vơ tăng luyện vơ nhưng hoạt động luyện tập vơ thuật của sư tăng Thiếu Lâm Tự vẫn được duy tŕ.

Vào thời nhà Nguyên, triều đ́nh từng cấm chỉ chế tạo binh khí, vơ khí, ngăn cấm quần chúng tập luyện vơ thuật. Nhưng Nguyên triều vẫn có mối quan hệ mật thiết với Thiếu Lâm Tự, được coi là vệ sỹ hết mực thân cận của triều đ́nh, do đó tuy cấm nhân dân tập vơ nhưng không cấm Thiếu Lâm Tự. Cuối đời nhà Nguyên, thiên hạ đại loạn, xung đột giữa phe hộ vệ cho triều đ́nh và phe phản Nguyên là không thể tránh khỏi. Trong cuộc đối kháng giữa Thiếu Lâm Tự và khởi nghĩa nông dân, Thiếu Lâm tự từng tổ chức tăng binh phản kích quân khăn đỏ, nhưng cuối cùng vẫn bị lực lượng nông dân lớn mạnh đánh bại. Về cuộc chiến tranh giữa Thiếu Lâm Tự và quân khăn đỏ, về sau diễn hóa thành thần thoại “ Cẩn Na La Vương chống quân khăn đỏ”. Theo truyền thuyết, khi quân khăn đỏ tấn công Thiếu Lâm Tự, Cẩn Na La đă cầm côn lửa tả xung hữu đột, đánh lui quân khăn đỏ. Tuy vậy, truyền thuyết này là ngược lại so với thực tế, không phải là Cẩn Na La đánh bại quân khăn đỏ mà quân khăn đỏ đánh bại Thiếu Lâm Tự, đồng thời chiếm Thiếu Lâm Tự. Về sau, Thiếu Lâm Tự phong Cẩn Na La là đại soái côn thuật.

Có thể nói t́nh h́nh luyện vơ của sư tăng Thiếu Lâm Tự suốt từ thời Bắc Ngụy đến đời nhà Nguyên, sử sách ghi chép lại rất ít, hơn nữa lại lẻ tẻ, không chuyên môn. Các hoạt động tập vơ chỉ thấy trên bia khắc, sách sử. Những chuyện như Tăng Chu tập vơ, Thập tam vơ tăng trợ Đường, Viên Tĩnh phản Đường, Tống đại tăng binh, Nguyên đại ngự hồng cân, chỉ có thể chứng minh được rằng hoạt động luyện vơ của Thiếu Lâm Tự là không hề gián đoạn.

Đền đời nhà Minh, qua diễn biến phát triển không ngừng của vơ tăng, vơ thuật Thiếu Lâm đă có sự tổng hợp, nâng cao, h́nh thành nên hệ thống kungfu, quyền thuật Thiếu Lâm hoàn chỉnh. Xét dưới góc độ môn phái kungfu th́ thời nhà Minh là thời kỳ h́nh thành lưu phái kungfu Thiếu Lâm, cũng là thời kỳ định danh cho vơ thuật Thiếu Lâm.

Kungfu Thiếu Lâm thời nhà Minh nổi tiếng nhất đó là côn pháp, nổi bật là tác phẩm “ Thiếu Lâm Côn Pháp Thiền Tông “ của Tŕnh Tông Hy. Đến đời vua Gia Tĩnh nhà Minh, Thiếu Lâm côn pháp đă nổi tiếng khắp thiên hạ, được coi là tuyệt kỹ của Thiếu Lâm Tự. Vơ tăng Thiếu Lâm  tham gia chiến tranh vào thời kỳ này hầu như đều sử dụng côn, ví dụ như đại sư Chu Hữu dẫn hàng ngàn tăng binh đi chấn áp các miền biên ải, rồi Thiếu Lâm vơ tăng tham gia chống quân xâm lược Nhật Bản đều nói đến việc sử dụng côn pháp.Qua thực tế lịch sử, Thiếu Lâm Tự cũng đă chỉnh lư lại hệ thống côn thuật của ḿnh. Vào thời kỳ này đă xuất hiện các tài liệu ghi chép tỉ mỉ, hệ thống côn thuật Thiếu Lâm, như các bài tập côn: Thiếu Lâm Tiểu Dạ Xoa Côn, Thiếu Lâm Đại Dạ Xoa Côn, Thiếu Lâm Âm Thủ Côn, Bài Côn, Xuyên Thoa Côn.

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của côn thuật, Thiếu Lâm quyền cũng có những bước tiến vượt bậc. Phong cách và đặc điểm của Thiếu Lâm quyền thời nhà Minh chủ yếu là phương pháp đối kháng, chú trọng đến các kỹ thuật áp dụng thực chiến.Thời gian h́nh thành nên côn pháp và quyền pháp Thiếu Lâm thời nhà Minh tuy không cách xa nhau lắm, tuy vậy quyền thuật vẫn nổi tiếng chưa bằng so với côn thuật. Qua tài liệu “Thiếu Lâm Côn Pháp Thiền Tông” chứng minh và phủ nhận quan điểm của nhiều người cho rằng Quyền pháp Thiếu Lâm được h́nh thành qua sự kế thừa của Côn pháp. Trên thực tế không phải vậy, Tŕnh Tông Hy cho rằng: không phải là Côn thuật Thiếu Lâm ra đời sớm hơn Quyền thuật mà là Côn thuật Thiếu Lâm nổi danh thiên hạ sớm hơn so với Quyền thuật mà thôi.

Quyền pháp cũng như Côn thuật Thiếu Lâm thời nhà Minh đều h́nh thành một cách có hệ thống. Ḥa thượng Huyền Cơ vào Thiếu Lâm Tự, suốt đời chỉ nghiên cứu quyền pháp Thiếu Lâm, về sau trở thành đầu lĩnh vơ tăng nổi tiếng của Thiếu Lâm Tự. Vào đời vua Thiên Khởi nhà Minh, ḥa thượng Huyền Cơ được nhậm chức “Đô Đề Cử” giáo đầu của các vơ tăng. Huyền Cơ c̣n truyền lại quyền pháp cho các tục gia đệ tử của ḿnh như: Trần Tùng Tuyền, Trần Hữu. Sau đó Trần Hữu lại truyền cho Trương Minh Ngạc, Trương Minh Ngạc truyền Trương Khổng Siêu  (đầu thời Thanh). Chính Trương Khổng Siêu đă dựa vào di pháp của ḥa thượng Huyền Cơ mà viết thành tác phẩm “ Quyền Kinh” (Thiếu Lâm) nổi tiếng. Quyền Kinh chủ yếu giới thiệu và tổng kết các nội dung, vận dụng bộ pháp, thủ pháp, trừu pháp, đề pháp cũng như các yếu lĩnh về thân, thủ, bộ, nhăn, khí của Thiếu Lâm quyền. Quyền Kinh không những là tác phẩm, tài liệu lư luận về quyền thuật Thiếu Lâm mà c̣n là mốc đánh dấu sự h́nh thành một cách có hệ thống, bài bản của Thiếu Lâm quyền.

Kungfu Thiếu Lâm thời Minh không những chỉ gói gọn trong nội dung Côn và Quyền.Ngoài ra c̣n có kiếm, kích, tiên (roi), trong đó có đại đao được coi là binh khí thịnh hành, phổ biến nhất trong hệ thống vơ thuật Thiếu Lâm đương thời.

Vơ thuật Thiếu Lâm phát triển cao độ nhất phải kể từ thời nhà Thanh. Thời kỳ này được coi là huy hoàng của vơ thuật Thiếu Lâm. Thiếu Lâm Tự vào thời kỳ này không những hết sức phồn thịnh mà việc tăng nhân luyện vơ, truyền vơ cũng phát triển một cách rầm rộ, thậm chí triều đ́nh c̣n quan tâm, điều tiết việc vơ tăng tham chiến, tiến nhập triều đ́nh. Có thể nói đến thời Thanh, Thiếu Lâm kungfu có một bước ngoặt khá lớn.

Đầu thời nhà Thanh, triều đ́nh cấm các tổ chức tôn giáo, nhưng các giáo hội truyền thụ vơ thuật, liên minh liên kết phản Thanh.Tuy nhiên, các tổ chức này không thể hiện mấy rơ ràng, lực lượng cũng bạc nhược, hơn nữa vào thời kỳ đầu họ cũng không có bất kỳ liên hệ hay quan hệ ǵ với Thiếu Lâm Tự hay vơ thuật Thiếu Lâm cả. Bởi vậy mà chính quyền nhà Thanh không coi việc tập vơ của vơ tăng Thiếu Lâm đồng nghĩa với tổ chức phản Thanh, đồng thời cũng không dùng biện pháp ǵ để ngăn cản Thiếu Lâm Tự luyện vơ. Ngược lại, ban đầu triều đ́nh nhà Thanh c̣n rất ủng hộ Thiền Tông, thực hiện đăi ngộ đối với Thiếu Lâm Tự không khác ǵ so với chính quyền nhà Minh trước đó.

Vào cuối đời vua Khang Hy, các tổ chức quần chúng phản Thanh ngày càng lớn mạnh. Dưới ngọn cờ “Phản Thanh phục Minh” các tổ chức này không ngừng liên kết, t́m kiếm thêm sức mạnh cho ḿnh.Thế là Thiếu Lâm kungfu và tăng binh trở thành đối tượng để các giáo môn, tổ chức khởi nghĩa bí mật này lợi dụng. Một số tổ chức giáo hội lợi dụng kungfu Thiếu Lâm làm vũ khí phản Thanh vào thời kỳ này nổi lên có Thiên Địa Hội và Bạch Liên Giáo.

Thiên Địa Hội là một giáo môn bí mật hoạt động phản Thanh vào thời vua Khang Hy, tên đối ngoại với bên ngoài thường gọi là “ Hồng Môn”. Gọi là Hồng Môn là bởi v́ lấy niên hiệu Hồng Vơ của Minh Thái Tổ - Chu Nguyên Chương, người nhập môn xưng là “ Hồng Môn” hoặc “ Hồng Môn huynh đệ”. Thiên Địa Hội sau khi thành lập, cảm thấy lực lượng bạc nhược, nhưng nhằm phát huy các chí sĩ vơ lâm phản Thanh nên bắt đầu lợi dụng Thiếu Lâm kungfu, vốn được coi là có sức ảnh hưởng xă hội khá lớn. Thiên Địa Hội nhằm khích đệ tử Thiếu Lâm phản Thanh nên đă ngụy tạo câu chuyện ly kỳ “ Hỏa thiêu Thiếu Lâm Tự”. Trong “ Thanh sử tư liệu tùng san-Thiên Địa Hội” của La Nhĩ Cương và “ Cận đại bí mật xă hội sử liệu” đều có ghi chép về câu chuyện này. Đó là, vào thời Thanh Khang Hy, Tây Lỗ tạo phản. Nhà Thanh phái ngự lâm quân đi thảo phạt nhưng bị hao binh tổn tướng. Sau đó Thanh triều ra cáo rằng: Ai chinh phạt được Tây Lỗ th́ thưởng vạn hộ hầu, vạn lượng vàng. Thiếu Lâm Tự sau khi nghe được tin này liền xuất binh chinh phạt Tây Lỗ, đại thắng khải hoàn. Về sau A Thất phản nghịch Thiếu Lâm, vu cáo Thiếu Lâm Tự mưu phản. Khang Hy không phân biệt được đâu là thật, đâu là giả liền phái ngự lâm quân nửa đêm xuất quân đến Thiếu Lâm Tự, lợi dụng sư tăng ngủ say, phóng hỏa thiêu cháy tự viện, 108 vơ tăng chỉ c̣n sống sót 5 người. Câu chuyện Thanh đế hỏa thiêu Thiếu Lâm Tự này của Hồng Môn là chỉ Thiếu Lâm Tự tại Phúc Kiến, trên thực tế nó lại nhằm vào Thiếu Lâm Tự - nơi khởi nguồn của Thiếu Lâm kungfu tại Tung Sơn, Hà Nam. Câu chuyện này của Hồng Môn hiển nhiên là nói nhà Thanh hủ bại, vơ tăng Thiếu Lâm rơ ràng có công lớn như vậy mà lại bị sát hại. Mục đích của Hồng Môn quá là rơ ràng, đó là lợi dụng câu chuyện này để kích đệ tử Thiếu Lâm đứng lên chống Thanh triều, báo thù cho huynh đệ Thiếu Lâm gặp nạn, rốt cuộc là thực hiện mục tiêu “Phản Thanh phục Minh”.

Đối mặt với các tổ chức, giáo hội phản Thanh bí mật này, nhà Thanh đă bắt đầu điều tra trên quy mô lớn. Vào thời Càn Long, triều đ́nh nhà Thanh đă liệt Thiên Địa Hội vào “Đại Thanh Luật”. Trước t́nh h́nh này, Thiếu Lâm Tự và vơ tăng Thiếu Lâm được coi là vũ khí phản Thanh của các giáo môn bị triều đ́nh tiến hành quản thúc, áp chế. Thái độ của triều đ́nh nhà Thanh đối với Thiếu Lâm Tự đă có sự thay đổi rất lớn, thậm chí vào năm Khang Hy (1666) khi trụ tŕ Hải Khoan viên tịch, triều đ́nh c̣n không cho Thiếu Lâm Tự tiến hành lập người kế nhiệm, nhằm cáo trung chế độ khâm mệnh trụ tŕ có hàng trăm năm trước đó của Thiếu Lâm Tự, khiến Thiếu Lâm Tự rơi vào cảnh hỗn loạn.

Đến thời Ung Chính, dưới sự áp chế quản thúc của triều đ́nh nhà Thanh, Thiếu Lâm Tự rơi vào t́nh cảnh khó khăn vô cùng, tăng đồ tản mát mọi nơi. Sau đó có Vương Sĩ Tuấn tấu tŕnh xin vua cho trùng tu lại Thiếu Lâm Tự. Ung Chính thuận ư và ban lệnh tiến hành trùng tu Thiếu Lâm tự nhưng quy định: các Môn đầu pḥng ( Đ́nh viện kiểu gia tộc) phải cách ly xa với chùa, tuyệt đối không được xây trong chùa. Tổng cộng có 25 Môn đầu pḥng phải thực hiện di dời đúng như chiếu vua ban, trong quá khứ th́ các Môn đầu pḥng này vốn là nơi luyện vơ của sư tăng Thiếu Lâm Tự. Thái độ của Ung Chính tuy không tàn khốc, quyết liệt như đối với các giáo môn phản Thanh nhưng nó hạn chế rất nhiều đối với sự phát triển của Thiếu Lâm Tự.Triều đ́nh nhà Thanh cấm người dân tập vơ, vơ tăng Thiếu Lâm Tự luyện vơ chuyển từ công khai sang hoạt động bí mật. Các hoạt động luyện vơ của sư tăng Thiếu Lâm Tự được diễn ra vào ban đêm, tại Thiên Phật Điện – nơi cất trữ kinh Phật và Phật tượng trở thành nơi luyện vơ thường xuyên của vơ tăng Thiếu Lâm Tự.

Vào cuối thời nhà Thanh, cùng với sự biến động của xă hội, triều đ́nh nhà Thanh đă dần trở nên suy yếu. Chính sách áp chế cấm luyện vơ từ thời Ung Chính duy tŕ đến thời Đạo Quang th́ đă trở nên suy giảm đi nhiều. Tuy vậy, sư tăng Thiếu Lâm Tự vẫn e ngại sự cấm đoán của Thanh triều cho nên tiếp tục bí mật luyện tập. Sau thời Đạo Quang, chính quyền Măn Thanh hủ bại, xă hội đại loạn, việc cấm luyện vơ cũng trở nên không cần thiết, cộng thêm sự ủng hộ của một số tướng triều Thanh trước đó đến viếng thăm Thiếu Lâm Tự như Tưởng Khánh Lân cho nên vơ tăng Thiếu Lâm dần từng bước công khai luyện vơ.

Bên cạnh việc lưu truyền rộng răi vơ thuật Thiếu Lâm trong xă hội, kungfu Thiếu Lâm vào thời Thanh cũng bắt đầu có sự phân chia môn phái. Vào cuối thời nhà Thanh, tại phía Nam Trung Quốc lưu truyền kungfu Thiếu Lâm, xưng là Thiếu Lâm Nam phái, lấy chùa Thiếu Lâm tại Tuyền Châu (Phúc Kiến) làm trung tâm, phía Bắc lưu truyền Thiếu Lâm Bắc phái, lấy chùa Thiếu Lâm tại Tung Sơn (Hà Nam) làm trung tâm. Do Thiếu Lâm Nam phái trọng quyền pháp, Bắc phái trọng cước pháp nên mới có câu “ Nam quyền Bắc cước”. Ngoài ra vào thời kỳ này c̣n phân chia vơ thuật Thiếu Lâm thành : Thiếu Lâm Quảng Đông, Thiếu Lâm Phúc Kiến, Thiếu Lâm Nga Mi…sự phân chia này vẫn chưa t́m được trong sử liệu thời Thanh. Trên thực tế, các loại kungfu Thiếu Lâm lưu truyền trong dân gian đều có sự khác biệt với đặc điểm cơ bản của Thiếu Lâm quyền chính tông là “ quyền đánh một đường thẳng”, “quyền đánh nơi trâu nằm”…Có điều này là bởi v́ vào thời Thanh, có nhiều vơ thuật gia xưng là đệ tử của phái Thiếu Lâm nhưng kỳ thực là sử dụng vơ thuật dân gian cổ truyền, không phải là kungfu chính tông của Thiếu Lâm.

Sự phát triển mạnh mẽ của vơ thuật Thiếu Lâm thời Thanh chủ yếu thể hiện trên phương diện ấn phẩm vơ thuật.

Tuy có sự cấm đoán của Thanh triều nhưng sách, tài liệu vơ thuật của Thiếu Lâm Tự không ngừng ra đời. Tài liệu vơ thuật Thiếu Lâm nổi tiếng nhất vào thời kỳ này đó là “ Quyền Kinh – Quyền Pháp Bí Yếu” , đây là di tác của ḥa thượng Huyền Cơ viết từ cuối thời Minh đầu thời Thanh, sau đó được Trương Khổng Siêu chỉnh lư. Sau khi viết xong, cuốn sách này vẫn không được in ấn mà chỉ truyền nhau chép tay. Sau đó phải đến năm 1929 mới được Nhà xuất bản Đại Thanh Thư Cục Thạch xuất bản và sau đó Đảm Ẩn Lư chính thức cho in ấn và công bố vào năm 1936.

Vào thời Thanh Càn Long năm thứ 27 (1762) tài liệu in “Thiếu Lâm Y Bát” cũng là tác phẩm Thiếu Lâm kungfu tương đối sớm. Nội dung của nó ghi chép Thiếu Lâm y bát chân truyền, La Hán đoản đả đồ, La Hán binh đao, La Hán hành công, binh khí, khẩu quyết…

Cuối thời Thanh, tài liệu ấn phẩm về Thiếu Lâm kungfu càng nhiều như: “ Nội Công Đồ Thuyết “ của Vương Tổ Nguyên, “ Thiếu Lâm đơn đao phổ” của Tưởng Bằng Trác vào thời vua Hàm Phong (Thanh). Thậm chí đến năm thứ 3 Tuyên Thống (1911), “Thiên Phong Báo” của Thượng Hải c̣n công khai đăng tải “ Thiếu Lâm Tông Pháp” được coi là tài liệu có tính chất phản Thanh.  

 

 Vơ thuật Thiếu Lâm thời kỳ Trung Hoa dân quốc

Vào thời kỳ Trung Hoa Dân Quốc (1911-1949), tuy Thiếu Lâm Tự có sự suy giảm ít nhiều, nhưng hoạt động luyện vơ của sư tăng vẫn được duy tŕ liên tục. Vào đầu thời kỳ này có hai đại sư nổi tiếng nhất là Hằng Lâm và Diệu Hưng. Đại sư Hằng Lâm tinh thông các loại công pháp của Thiếu Lâm, từng nhậm chức giáo đầu vơ tăng và trụ tŕ Thiếu Lâm Tự, đệ tử khá nhiều. Thời gian này xă hội loạn lạc, thổ phỉ nhiều, đại sư Hằng Lâm đă từng nhậm chức Tổng đoàn bảo vệ Thiếu Lâm Tự, dẫn vơ tăng giao chiến nhiều lần với thổ phỉ và giành chiến thắng vang dội. Diệu Hưng là đệ tử của Hằng Lâm, ông tinh thông quyền, binh khí Thiếu Lâm, phương pháp điểm huyệt, cầm nă, khí công…Sau khi Hằng Lâm lên trụ tŕ Thiếu Lâm Tự, Diệu Hưng đă mạnh dạn phá bỏ tập tục “ngoại bất truyền” của Thiếu Lâm Tự, ông đă tổ chức truyền thụ vơ công Thiếu Lâm cho rất nhiều tục gia đệ tử (những người không tu hành tại Thiếu Lâm Tự).

Trong thời kỳ Dân quốc, Thiếu Lâm Tự c̣n cống hiến cho nhà nước hai vị tướng quân là Hứa Thế Hữu và Tiền Điếu. Từ năm 1914 đến năm 1921, Hứa Thế Hữu tham gia công tác tạp dịch trong Thiếu Lâm Tự, luyện vơ suốt 8 năm liền. Đến năm 16 tuổi khi ra khỏi Thiếu Lâm Tự, ông đă nắm bắt được rất nhiều tuyệt kỹ kungfu Thiếu Lâm. Tiền Điếu năm 13 tuổi (1916) vào Thiếu Lâm Tự làm tạp dịch, tập vơ 5 năm, luyện thành công tuyệt kỹ Chu Sa Chưởng. Sau đó hai người tận dụng vơ công đă học được ở Thiếu Lâm Tự, không ngừng anh dũng chiến đấu trên chiến trường, lập nhiều chiến công hiển hách. Năm 1955 Hứa Thế Hữu được phong hàm Thượng tướng c̣n Tiền Điếu được phong hàm Trung tướng.

Năm 1928, quân Quốc dân tiến hành Bắc phạt, quân Hà Nam do Phàm Trung Tú thống lănh, dùng Thiếu Lâm Tự làm Bộ tư lệnh. Nhưng bị quân Quốc dân do Thạch Hữu Tam chỉ huy đánh bại, sau đó Thạch Hữu Tam công tiếp vào Thiếu Lâm Tự, dùng lửa thiêu cháy một số điện đường quan trọng của Thiếu Lâm Tự, một bộ phận tài liệu kungfu Thiếu Lâm cũng bị thiêu hủy, sư tăng trong chùa tán loạn tứ phương. Thiếu Lâm Tự lại rơi vào hoàn cảnh khốn khó trong lịch sử. Sau khi Thiếu Lâm Tự bị hỏa thiêu, các vơ tăng Trinh Tự, Tố Điển, Đức Thiền cùng tiến hành bàn bạc khôi phục lại Kungfu Thiếu Lâm, hiệu triệu vơ tăng hoàn tục là đại sư Ngô Tam Lâm trở lại Thiếu Lâm Tự để kết hợp huấn luyện vơ tăng, bồi dưỡng ra Đức Căn, Hành Chương và hơn 40 vơ tăng ưu tú khác. Năm 1946, nhận lời mời trụ tŕ, Hải Đăng pháp sư nhậm chức trụ tŕ Thiếu Lâm Tự, đồng thời làm giáo sư vơ thuật cho Thiếu Lâm Tự.

Trong thời kỳ Dân quốc, vơ thuật Thiếu Lâm lưu truyền rộng thêm một bước, đặc biệt là tại các khu vực lân cận thuộc Đăng Phong, Thiếu Lâm kungfu bắt đầu từng bước nhân rộng vào nhân dân, tại Thiếu Lâm Tự thôn, Tháp Câu thôn, Nam Chiếu Câu thôn, Ma Câu thôn, Lạc Đà thôn, Lôi thôn, Nguyễn thôn, Văn thôn…người tập vơ Thiếu Lâm nhiều vô kể, h́nh thành các thôn vơ Thiếu Lâm. Năm 1937 khi chiến tranh kháng Nhật bùng nổ, 9 huyện thuộc phía Tây tỉnh Hà Nam đă thành lập “ Thiếu Lâm vơ thuật cứu quốc hội”, tại Đăng Phong, Lâm Nhữ, Củng Huyện có đến hàng trăm ngàn người tham gia, qua đó có thể thấy mức độ phổ cập vơ thuật Thiếu Lâm lớn mạnh như thế nào. Nh́n một cách tổng thể toàn Trung Quốc, vào thời kỳ này người luyện tập, biểu diễn vơ thuật Thiếu Lâm cũng như việc thành lập các tổ chức vơ thuật nhiều vô kể. Sự ra đời của Trung Ương Quốc Thuật Quán (tương đương với Viện vơ thuật hiện nay) là nhằm xây dựng, quy phạm lại tất cả các giáo tŕnh, huấn luyện đối với hai môn phái lớn là Thiếu Lâm và Vơ Đang.

Trong thời kỳ Dân quốc, đă xuất hiện làn sóng chỉnh lư và xuất bản tài liệu vơ thuật trong xă hội hết sức sôi nổi. Từ năm 1911 đến năm 1945, theo thống kê toàn Trung Quốc đă xuất bản khoảng hơn 40 loại sách khác nhau về vơ thuật Thiếu Lâm, như “ Thiếu Lâm Tự Quyền Thuật Bí Quyết” của Tôn Vơ Trai, “ Đạt Ma Kiếm” của Triệu Liên Ḥa, “ Thiếu Lâm Chính Tông Luyện Bộ Quyền” của Ngô Chí Thanh, “ Thiếu Lâm Thất Thập Nhị Nghệ Luyện Pháp” của Kim Ân Trung, “ Thiếu Lâm Côn Pháp” của Kim Dung Tiêu, “ Thiếu Lâm Hộ Sơn Tử Môn La Hán Quyền” của Chu Hà Thiên…Các sách vơ thuật Thiếu Lâm xuất bản vào thời kỳ này, ngoài “ Thiếu Lâm Thất Thập Nhị Nghệ Luyện Pháp”, “Thiếu Lâm Hộ Sơn Tử Môn La Hán Quyền” là vơ thuật truyền thống Thiếu Lâm ra, hầu hết các sách vơ thuật Thiếu Lâm c̣n lại khác đều thuộc kungfu Thiếu Lâm đă được du nhập vào dân gian, đồng thời đă được gia công, chỉnh lư, chứa đựng thêm số lượng lượng lớn thành phần vơ thuật dân gian cổ truyền Trung Hoa. Ví dụ như trong “ Thiếu Lâm Tự Quyền Thuật Bí Quyết” là du nhập vơ thuật dân gian Nam phái vào trong vơ thuật Thiếu Lâm, bởi vậy mà công tác khảo cứu tính thật giả của các tài liệu lịch sử vơ thuật Thiếu Lâm chân truyền vào thời kỳ này cũng bắt đầu xuất hiện. Ví dụ như “ Thiếu Lâm Vơ Đang khảo”, “ Thiếu Lâm Bí Quyết khảo chứng” của nhà nghiên cứu vơ thuật Đường Hào, “ Thiếu Lâm Tông Pháp Đồ Thuyết khảo chứng” của Từ Chấn có tác dụng to lớn đối với việc kết luận bản chuẩn của Kungfu Thiếu Lâm.

 

Vơ thuật Thiếu Lâm ngày nay
     
Sau khi Nước CHND Trung Hoa được thành lập (năm 1949), vơ thuật Thiếu Lâm được nhà nước và xă hội hết sức coi trọng, coi đó là di sản văn hóa quư báu của dân tộc Trung Hoa. Chức năng của vơ thuật Thiếu Lâm cũng có sự thay đổi hết sức to lớn, từ việc sử dụng để chiến đấu trong quá khứ lịch sử nay được bổ sung thêm chức năng hoạt động thể dục tăng cường sức khỏe của người dân, do đó được phổ cập rộng răi trong nhân dân.

Sự truyền bá vơ thuật Thiếu Lâm hiện nay nhằm chủ yếu vào xă hội là chính. Năm 1954, huyện Đăng Phong coi kungfu Thiếu Lâm là hạng mục trọng yếu hội tông hội diễn nghệ thuật dân gian. Năm 1959, kungfu Thiếu Lâm được coi là hạng mục thể dục tham gia hội diễn phong trào thể dục tổ chức tại thành phố Trịnh Châu (thủ phủ tỉnh Hà Nam ). Trên phương diện phát triển rộng vơ thuật Thiếu Lâm, năm 1958 huyện Đăng Phong thành lập Trường vơ thuật nghiệp dư Đăng Phong, chuyên tu Thiếu Lâm kungfu, đồng thời mời vơ tăng nổi tiếng Thích Đức Căn của Thiếu Lâm Tự làm huấn luyện viên trưởng của trường. Sau khi giữ chức huấn luyện viên trưởng, đại sư Thích Đức Căn đă đào tạo ra một loạt những nhân tài vơ thuật Thiếu Lâm. Năm 1970, ủy ban TDTT huyện Đăng Phong cho tổ chức xây dựng lại Trường vơ thuật nghiệp dư Đăng Phong, đồng thời mời vơ tăng hoàn tục Dương Tụ Tài làm huấn luyện viên trưởng, sau đó mời thêm vơ tăng Thiếu Lâm là Lương Dĩ Toàn tham gia phối hợp. Việc bồi dưỡng ra một loạt những nhân tài vơ thuật Thiếu Lâm tại trường này có một vai tṛ quan trọng đối với sự phát triển của vơ thuật Thiếu Lâm sau này.

Năm 1978, sau khi nhà nước Trung Quốc thực hiện chính sách mở cửa, vơ thuật Thiếu Lâm đứng trước cơ hội to lớn chưa từng có trong lịch sử. Năm 1979, Thập Ngũ Trung thuộc huyện Đăng Phong lần đầu tiên cho thành lập Đội vơ thuật Thiếu Lâm chuyên nghiệp tại trường học. Năm 1980, trường vơ thuật Thiếu Lâm được thành lập tại Thập Ngũ Trung, đồng thời do quyền sư nổi tiếng Thiếu Lâm là Vương Triều Phàm, Lă Học Lễ, Trịnh Thư Kỳ, Vương Tông Nhân giảng dạy. Trường vơ được thành lập giành được nhiều sự ủng hộ to lớn của các giới trong xă hội. Năm 1979, Công ty điện ảnh Trung Nguyên của Hong Kong cho tiến hành quay bộ phim “ Thập tam ḥa thượng cứu Đường vương” dựa theo cốt truyện “ Thập tam ḥa thượng cứu Đường vương” trong lịch sử. Ban đầu sử dụng các diễn viên của Hong Kong và diễn viên của đoàn Kinh kịch tỉnh Hà Nam. Khi quay được một nửa, do thiếu vơ thuật chính tông và việc kịch hóa diễn ra quá lớn , cho nên đổi tên phim thành “ Thiếu Lâm Tự”, đồng thời cho mời vận động viên vơ thuật nổi tiếng toàn Trung Quốc là Lư Liên Kiệt thủ vai chính. Năm 1980 bộ phim được tiếp tục quay tại Thiếu Lâm Tự. Năm 1982 khi được tŕnh chiếu lần đầu tiên tại Hong Kong và Trung Hoa đại lục, bộ phim đă dành được sự chú ư và đánh giá cao của nhiều khán giả trên thế giới. Bởi v́ những cảnh trong phim là kungfu thật, vơ thuật Thiếu Lâm chính tông. Chính từ sau khi tŕnh chiếu bộ phim này mà đă h́nh thành nên làn sóng luyện vơ thuật Thiếu Lâm của nhiều nước trên thế giới, hàng năm có biết bao nhiêu người đă đến Thiếu Lâm Tự để học tập. Năm 1986 Thiếu Lâm Tự thành lập Hội nghiên cứu quyền pháp Thiếu Lâm do pháp sư Hành Chính làm hội trưởng, Vĩnh Tín, Ấn Tông làm phó Hội trưởng, tiến hành cho khai thác và chỉnh lư Thiếu Lâm kungfu, xuất bản tạp chí “ Thiếu Lâm Quyền”. Sau đó Thiếu Lâm Tự thành lập vơ tăng đoàn, nhiều lần tổ chức ra nước ngoài biểu diễn để tuyên truyền vơ thuật Thiếu Lâm. Cùng năm này, nhà nước Trung Quốc cho đầu tư hơn 7 triệu nhân dân tệ, xây dựng khu huán luyện rộng 290.000 mét vuông cách Thiếu Lâm Tự 700 m về phía Tây, thực hiện chiêu sinh, bồi dưỡng nhân tài vơ thuật Thiếu Lâm. Khu huấn luyện này từ tháng 9 năm1988 đến nay đă chiêu sinh hàng trăm ngàn học viên , trong đó có các học viên từ nước ngoài như Mỹ, Singapore, Úc, Thụy Điển, Tây Ban Nha, Pháp, Đức, Thụy Sỹ…Năm 1999, huyện Đăng Phong đă phê chuẩn cho thành lập 34 trường vơ thuật Thiếu Lâm, học viên đến từ trong và ngoài Trung Quốc có đến hàng vạn người.


Return to main                                                  

  

 Practicing at a Temple in Vietnam Shaolin kungfu self-defense

   MOVIES>> short movie sword,stick&kata Kata, Stick&Sword          

 

   Martial Arts Studio  Address7243-7245 Corbin Ave, Canoga Park, CA 91306  

                 THANK YOU FOR VISITING TO KIENANDO

  Guestbook     emailed.gif (14893 bytes) 

 

 


 

 

This web site was created by pptwebmaster.com  has been accessed  times since 06/04/01
 Questions, comments. problems regarding this web site will be directed to [kienandokungfu.com].
    Martial Arts  Address 7243-7245 Corbin Ave, Canoga Park, CA 91306
     
Send Email to: emailed.gif (14893 bytes) info@kienandokungfu.com 
  Copyright © 2001 [Kienando]. All rights reserved. 
    Last modified: Monday May 28, 2007