|
Vơ
thuật Thiếu Lâm thời kỳ phong kiến
Vơ
thuật Thiếu Lâm là một trong những môn phái vơ
thuật nổi tiếng Trung Hoa. Lịch sử vơ
thuật Thiếu Lâm có từ lâu đời và có
sức ảnh hưởng sâu rộng, nó là bộ
phận cấu thành quan trọng của vơ thuật
truyền thống Trung Quốc.Có thể nói
“Thiếu Lâm quyền”, “Thiếu Lâm côn” có vai tṛ
trọng yếu, to lớn trong lịch sử vơ
thuật Trung Hoa.
Vơ
thuật Thiếu Lâm khởi nguồn từ Tung Sơn
Thiếu Lâm Tự. Thiếu Lâm Tự nằm dưới
chân núi Ngũ Nhũ Phong trong quần thể thiếu
thất Tung Sơn thuộc huyện Đăng Phong –
Tỉnh Hà
Nam
– Trung Quốc.
Thiếu Lâm Tự được xây dựng vào năm
thứ 19 Thái Ḥa – Triều đại Bắc
Ngụy ( tức năm 495 sau CN), do Hiếu Văn Đế
ban đất cho nhà sư Bạt Đà đến
từ Ấn Độ xây dựng nhằm mục
đích truyền đạo Phật.
Sau
khi trụ tŕ Thiếu Lâm Tự, Bạt Đà đại
sư
tiến hành thâu nhận đệ tử,
trong số đó có những thanh niên biết vơ
thuật được thế độ thành ḥa thượng.
Thiền sư Bạt Đà có công đóng góp rất
lớn đối với việc xây dựng Thiếu
Lâm Tự, dịch kinh Phật, truyền thụ
Phật pháp. Trong Thiếu Lâm quyền phổ c̣n ghi chép
về Thiền trượng và nhất lộ Đại
đao của thiền sư Bạt Đà
Vào
năm thứ 3 Hiếu Xương triều đại
Bắc Nguỵ (năm 527), đại sư Bồ
Đề Lạt Ma từ Ấn Độ đến
Thiếu Lâm Tự truyền thụ Phật giáo
Thiền Tông, tĩnh toạ tu tâm suốt 9 năm ṛng,
được coi là sư tổ của Phật giáo
Thiền Tông Trung Quốc.Vào thời điểm đó,
khi tĩnh toạ không tránh khỏi gân cốt mỏi
mệt, hơn nữa lại ở nơi núi cao
rừng sâu, chịu đựng cái rét và sự
tấn công của các loài thú dữ. Để kháng
cự lại những yếu tố bất lợi
này,
Đạt Ma sư tổ đă biên soạn ra
“Hoạt thân pháp” để truyền thụ cho các
đệ tử nhằm tập luyện, thư giăn gân
cốt, chính phương pháp này là định h́nh
ban đầu của “Thiếu Lâm Quyền”. Ngoài
ra,
ông c̣n sử luyện dụng kiếm, côn, trượng..người
đời sau c̣n gọi là Đạt Ma trượng,
Đạt Ma kiếm. Sau này chính ông đă mô
phỏng các động tác của mộ số loài
chim, thú, kết hợp với “Hoạt thân pháp”
tạo thành La Hán Thập Bát Thủ. Đến đời
nhà Nguyên, có đại sư Bạch Ngọc Phong, Giác
Viễn nghiên cứu, chỉnh lư, phát triển thành
Thất Thập Nhị Thủ.
Cuối
triều nhà Tuỳ đầu nhà Đường,
nhằm bảo vệ sự an toàn cho Thiếu Lâm
Tự, sư tăng tổ chức đội ngũ,
tập hợp tăng nhân tổ chức luyện vơ, rèn
luyện sức khỏe. Sau này khi các vơ tăng tham gia
thêm vào các hoạt động chính trị, quân
sự của nhà nước phong kiến Trung Hoa th́ vơ
thuật Thiếu Lâm đă từng bước
được phát triển thêm, cụ thể là
tổ chức và huấn luyện vơ tăng một cách
quy củ, quanh năm suốt tháng luyện tập không
ngừng nghỉ.
Nguyên
tướng nhà Tùy là Vương Thế Xung dụng
binh xưng đế tại Lạc Dương, phái cháu
là Vương Nhân Tắc đến thảo phạt
Thiếu Lâm Tự, xâm phạm đất đai
của Thiếu Lâm Tự. Thiếu Lâm Tự cắt
cử 13 đại vơ tăng hỗ trợ vua
Đường là Lư Thế Dân dẹp tan quân của
Vương Nhân Tắc, b́nh định Vương
Thế Xung. Sau sự kiện này Lư Thế Dân ban thưởng
hậu hĩnh cho Thiếu Lâm tự, vơ thuật
Thiếu Lâm càng được khẳng định và
công nhận.
Đầu
thời kỳ nhà Đường, tuy vơ tăng
Thiếu Lâm Tự nổi tiếng v́ vơ thuật nhưng
vơ thuật Thiếu Lâm vẫn chưa định h́nh
một cách có hệ thống, nguyên nhân là vơ tăng
vẫn luyện tập vơ thuật truyền thống
Trung Hoa.
Nửa
sau thời nhà Đường, cùng với sự xác
lập địa vị tổ đ́nh Phật giáo
Thiền Tông của Thiếu Lâm Tự, Thiếu Lâm
Tự trở thành trung tâm Thiền học.
Đến
thời nhà Tống, tuy không có nhiều ghi chép về
chuyện vơ tăng luyện vơ nhưng hoạt động
luyện tập vơ thuật của sư tăng
Thiếu Lâm Tự vẫn được duy tŕ.
Vào
thời nhà Nguyên, triều đ́nh từng cấm
chỉ chế tạo binh khí, vơ khí, ngăn cấm
quần chúng tập luyện vơ thuật. Nhưng Nguyên
triều vẫn có mối quan hệ mật thiết
với Thiếu Lâm Tự, được coi là vệ
sỹ hết mực thân cận của triều đ́nh,
do đó tuy cấm nhân dân tập vơ nhưng không
cấm Thiếu Lâm Tự. Cuối đời nhà
Nguyên,
thiên hạ đại loạn, xung đột giữa
phe hộ vệ cho triều đ́nh và phe phản Nguyên
là không thể tránh khỏi. Trong cuộc đối kháng
giữa Thiếu Lâm Tự và khởi nghĩa nông dân,
Thiếu Lâm tự từng tổ chức tăng binh
phản kích quân khăn đỏ, nhưng cuối cùng
vẫn bị lực lượng nông dân lớn
mạnh đánh bại. Về cuộc chiến tranh
giữa Thiếu Lâm Tự và quân khăn đỏ,
về sau diễn hóa thành thần thoại “ Cẩn
Na La Vương chống quân khăn đỏ”. Theo
truyền thuyết, khi quân khăn đỏ tấn công
Thiếu Lâm Tự, Cẩn Na La đă cầm côn
lửa tả xung hữu đột, đánh lui quân khăn
đỏ. Tuy vậy, truyền thuyết này là ngược
lại so với thực tế, không phải là
Cẩn Na La đánh bại quân khăn đỏ mà quân
khăn đỏ đánh bại Thiếu Lâm Tự,
đồng thời chiếm Thiếu Lâm Tự. Về
sau, Thiếu Lâm Tự phong Cẩn Na La là đại soái
côn thuật.
Có
thể nói t́nh h́nh luyện vơ của sư tăng
Thiếu Lâm Tự suốt từ thời Bắc
Ngụy đến đời nhà Nguyên, sử sách ghi
chép lại rất ít, hơn nữa lại lẻ
tẻ, không chuyên môn. Các hoạt động tập vơ
chỉ thấy trên bia khắc, sách sử. Những
chuyện như Tăng Chu tập vơ, Thập tam vơ tăng
trợ Đường, Viên Tĩnh phản Đường,
Tống đại tăng binh, Nguyên đại ngự
hồng cân, chỉ có thể chứng minh được
rằng hoạt động luyện vơ của
Thiếu Lâm Tự là không hề gián đoạn.
Đền
đời nhà Minh, qua diễn biến phát triển không
ngừng của vơ tăng, vơ thuật Thiếu Lâm
đă có sự tổng hợp, nâng cao, h́nh thành nên
hệ thống kungfu, quyền thuật Thiếu Lâm hoàn
chỉnh. Xét dưới góc độ môn phái kungfu th́
thời nhà Minh là thời kỳ h́nh thành lưu phái
kungfu Thiếu Lâm, cũng là thời kỳ định
danh cho vơ thuật Thiếu Lâm.
Kungfu
Thiếu Lâm thời nhà Minh nổi tiếng nhất
đó là côn pháp, nổi bật là tác phẩm “
Thiếu Lâm Côn Pháp Thiền Tông “ của Tŕnh Tông
Hy. Đến đời vua Gia Tĩnh nhà Minh, Thiếu
Lâm côn pháp đă nổi tiếng khắp thiên hạ,
được coi là tuyệt kỹ của Thiếu Lâm
Tự. Vơ tăng Thiếu Lâm tham
gia chiến tranh vào thời kỳ này hầu như
đều sử dụng côn, ví dụ như đại
sư Chu Hữu dẫn hàng ngàn tăng binh đi
chấn áp các miền biên ải, rồi Thiếu Lâm
vơ tăng tham gia chống quân xâm lược Nhật
Bản đều nói đến việc sử
dụng côn pháp.Qua thực tế lịch sử,
Thiếu Lâm Tự cũng đă chỉnh lư lại
hệ thống côn thuật của ḿnh. Vào thời
kỳ này đă xuất hiện các tài liệu ghi chép
tỉ mỉ, hệ thống côn thuật Thiếu Lâm,
như các bài tập côn: Thiếu Lâm Tiểu Dạ
Xoa Côn, Thiếu Lâm Đại Dạ Xoa Côn, Thiếu Lâm
Âm Thủ Côn, Bài Côn, Xuyên Thoa Côn.
Cùng
với sự phát triển mạnh mẽ của côn
thuật, Thiếu Lâm quyền cũng có những bước
tiến vượt bậc. Phong cách và đặc
điểm của Thiếu Lâm quyền thời nhà
Minh chủ yếu là phương pháp đối kháng,
chú trọng đến các kỹ thuật áp dụng
thực chiến.Thời gian h́nh thành nên côn pháp và
quyền pháp Thiếu Lâm thời nhà Minh tuy không cách
xa nhau lắm, tuy vậy quyền thuật vẫn
nổi tiếng chưa bằng so với côn thuật.
Qua tài liệu “Thiếu Lâm Côn Pháp Thiền Tông”
chứng minh và phủ nhận quan điểm của
nhiều người cho rằng Quyền pháp Thiếu
Lâm được h́nh thành qua sự kế thừa
của Côn pháp. Trên thực tế không phải
vậy, Tŕnh Tông Hy cho rằng: không phải là Côn
thuật Thiếu Lâm ra đời sớm hơn
Quyền thuật mà là Côn thuật Thiếu Lâm
nổi danh thiên hạ sớm hơn so với Quyền
thuật mà thôi.
Quyền
pháp cũng như Côn thuật Thiếu Lâm thời nhà
Minh đều h́nh thành một cách có hệ thống.
Ḥa thượng Huyền Cơ vào Thiếu Lâm Tự,
suốt đời chỉ nghiên cứu quyền pháp
Thiếu Lâm, về sau trở thành đầu lĩnh vơ
tăng nổi tiếng của Thiếu Lâm Tự. Vào
đời vua Thiên Khởi nhà Minh, ḥa thượng
Huyền Cơ được nhậm chức “Đô
Đề Cử” giáo đầu của các vơ tăng.
Huyền Cơ c̣n truyền lại quyền pháp cho các
tục gia đệ tử của ḿnh như: Trần
Tùng Tuyền, Trần Hữu. Sau đó Trần Hữu
lại truyền cho Trương Minh Ngạc, Trương
Minh Ngạc truyền Trương Khổng Siêu (đầu
thời Thanh). Chính Trương Khổng Siêu đă
dựa vào di pháp của ḥa thượng Huyền Cơ
mà viết thành tác phẩm “ Quyền Kinh” (Thiếu
Lâm) nổi tiếng. Quyền Kinh chủ yếu
giới thiệu và tổng kết các nội dung,
vận dụng bộ pháp, thủ pháp, trừu pháp,
đề pháp cũng như các yếu lĩnh về
thân, thủ, bộ, nhăn, khí của Thiếu Lâm
quyền. Quyền Kinh không những là tác phẩm, tài
liệu lư luận về quyền thuật Thiếu Lâm
mà c̣n là mốc đánh dấu sự h́nh thành
một cách có hệ thống, bài bản của
Thiếu Lâm quyền.
Kungfu
Thiếu Lâm thời Minh không những chỉ gói
gọn trong nội dung Côn và Quyền.Ngoài ra c̣n có
kiếm, kích, tiên (roi), trong đó có đại đao
được coi là binh khí thịnh hành, phổ
biến nhất trong hệ thống vơ thuật
Thiếu Lâm đương thời.
Vơ
thuật Thiếu Lâm phát triển cao độ
nhất phải kể từ thời nhà Thanh. Thời
kỳ này được coi là huy hoàng của vơ
thuật Thiếu Lâm. Thiếu Lâm Tự vào thời
kỳ này không những hết sức phồn
thịnh mà việc tăng nhân luyện vơ, truyền vơ
cũng phát triển một cách rầm rộ, thậm
chí triều đ́nh c̣n quan tâm, điều tiết
việc vơ tăng tham chiến, tiến nhập
triều đ́nh. Có thể nói đến thời Thanh,
Thiếu Lâm kungfu có một bước ngoặt khá
lớn.
Đầu
thời nhà Thanh, triều đ́nh cấm các tổ
chức tôn giáo, nhưng các giáo hội truyền
thụ vơ thuật, liên minh liên kết phản Thanh.Tuy
nhiên, các tổ chức này không thể hiện
mấy rơ ràng, lực lượng cũng bạc nhược,
hơn nữa vào thời kỳ đầu họ cũng
không có bất kỳ liên hệ hay quan hệ ǵ
với Thiếu Lâm Tự hay vơ thuật Thiếu Lâm
cả. Bởi vậy mà chính quyền nhà Thanh không coi
việc tập vơ của vơ tăng Thiếu Lâm đồng
nghĩa với tổ chức phản Thanh, đồng
thời cũng không dùng biện pháp ǵ để ngăn
cản Thiếu Lâm Tự luyện vơ. Ngược
lại, ban đầu triều đ́nh nhà Thanh c̣n
rất ủng hộ Thiền Tông, thực hiện
đăi ngộ đối với Thiếu Lâm Tự không
khác ǵ so với chính quyền nhà Minh trước
đó.
Vào
cuối đời vua Khang Hy, các tổ chức
quần chúng phản Thanh ngày càng lớn mạnh. Dưới
ngọn cờ “Phản Thanh phục Minh” các tổ
chức này không ngừng liên kết, t́m kiếm thêm
sức mạnh cho ḿnh.Thế là Thiếu Lâm kungfu và tăng
binh trở thành đối tượng để các
giáo môn, tổ chức khởi nghĩa bí mật này
lợi dụng. Một số tổ chức giáo
hội lợi dụng kungfu Thiếu Lâm làm vũ khí
phản Thanh vào thời kỳ này nổi lên có Thiên
Địa Hội và Bạch Liên Giáo.
Thiên
Địa Hội là một giáo môn bí mật hoạt
động phản Thanh vào thời vua Khang Hy, tên đối
ngoại với bên ngoài thường
gọi là “ Hồng Môn”. Gọi là Hồng Môn là
bởi v́ lấy niên hiệu Hồng Vơ của Minh Thái
Tổ - Chu Nguyên Chương,
người nhập môn xưng là “ Hồng Môn”
hoặc “ Hồng Môn huynh đệ”. Thiên Địa
Hội sau khi thành lập, cảm thấy lực lượng
bạc nhược, nhưng nhằm phát huy các chí sĩ
vơ lâm phản Thanh nên bắt đầu lợi
dụng Thiếu Lâm kungfu, vốn được coi là
có sức ảnh hưởng xă hội khá lớn. Thiên
Địa Hội nhằm khích đệ tử
Thiếu Lâm phản Thanh nên đă ngụy tạo câu
chuyện ly kỳ “ Hỏa thiêu Thiếu Lâm Tự”.
Trong “ Thanh sử tư liệu tùng san-Thiên Địa
Hội” của La Nhĩ Cương và “ Cận
đại bí mật xă hội sử liệu” đều
có ghi chép về câu chuyện này. Đó là, vào
thời Thanh Khang Hy, Tây Lỗ tạo phản. Nhà Thanh
phái ngự lâm quân đi thảo phạt nhưng
bị hao binh tổn tướng. Sau đó Thanh
triều ra cáo rằng: Ai chinh phạt được Tây
Lỗ th́ thưởng vạn hộ hầu, vạn lượng
vàng. Thiếu Lâm Tự sau khi nghe được tin này
liền xuất binh chinh phạt Tây Lỗ, đại
thắng khải hoàn. Về sau A Thất phản
nghịch Thiếu Lâm, vu cáo Thiếu Lâm Tự mưu
phản. Khang Hy không phân biệt được đâu
là thật, đâu là giả liền phái ngự lâm quân
nửa đêm xuất quân đến Thiếu Lâm
Tự, lợi dụng sư tăng ngủ say, phóng
hỏa thiêu cháy tự viện, 108 vơ tăng chỉ c̣n
sống sót 5 người. Câu chuyện Thanh đế
hỏa thiêu Thiếu Lâm Tự này của Hồng Môn
là chỉ Thiếu Lâm Tự tại Phúc Kiến, trên
thực tế nó lại nhằm vào Thiếu Lâm
Tự - nơi khởi nguồn của Thiếu Lâm
kungfu tại Tung Sơn, Hà Nam. Câu chuyện này của
Hồng Môn hiển nhiên là nói nhà Thanh hủ bại,
vơ tăng Thiếu Lâm rơ ràng có công lớn như
vậy mà lại bị sát hại. Mục đích
của Hồng Môn quá là rơ ràng, đó là lợi
dụng câu chuyện này để kích đệ
tử Thiếu Lâm đứng lên chống Thanh
triều, báo thù cho huynh đệ Thiếu Lâm gặp
nạn, rốt cuộc là thực hiện mục tiêu
“Phản Thanh phục Minh”.
Đối
mặt với các tổ chức, giáo hội phản
Thanh bí mật này, nhà Thanh đă bắt đầu
điều tra trên quy mô lớn. Vào thời Càn Long,
triều đ́nh nhà Thanh đă liệt Thiên Địa
Hội vào “Đại Thanh Luật”. Trước t́nh
h́nh này, Thiếu Lâm Tự và vơ tăng Thiếu Lâm
được coi là vũ khí phản Thanh của các
giáo môn bị triều đ́nh tiến hành quản
thúc,
áp chế. Thái độ của triều đ́nh nhà
Thanh đối với Thiếu Lâm Tự đă có
sự thay đổi rất lớn, thậm chí vào năm
Khang Hy (1666) khi trụ tŕ Hải Khoan viên tịch,
triều đ́nh c̣n không cho Thiếu Lâm Tự
tiến hành lập người kế nhiệm,
nhằm cáo trung chế độ khâm mệnh trụ
tŕ có hàng trăm năm trước đó của
Thiếu Lâm Tự, khiến Thiếu Lâm Tự rơi
vào cảnh hỗn loạn.
Đến
thời Ung Chính, dưới sự áp chế quản
thúc của triều đ́nh nhà Thanh, Thiếu Lâm
Tự rơi vào t́nh cảnh khó khăn vô cùng, tăng
đồ tản mát mọi nơi. Sau đó có Vương
Sĩ Tuấn tấu tŕnh xin vua cho trùng tu lại
Thiếu Lâm Tự. Ung Chính thuận ư và ban lệnh
tiến hành trùng tu Thiếu Lâm tự nhưng quy định:
các Môn đầu pḥng ( Đ́nh viện kiểu gia
tộc) phải cách ly xa với chùa, tuyệt đối
không được xây trong chùa. Tổng cộng có 25
Môn đầu pḥng phải thực hiện di dời
đúng như chiếu vua ban, trong quá khứ th́ các Môn
đầu pḥng này vốn là nơi luyện vơ
của sư tăng Thiếu Lâm Tự. Thái độ
của Ung Chính tuy không tàn khốc, quyết liệt như
đối với các giáo môn phản Thanh nhưng nó
hạn chế rất nhiều đối với
sự phát triển của Thiếu Lâm Tự.Triều
đ́nh nhà Thanh cấm người dân tập vơ, vơ tăng
Thiếu Lâm Tự luyện vơ chuyển từ công khai
sang hoạt động bí mật. Các hoạt động
luyện vơ của sư tăng Thiếu Lâm Tự
được diễn ra vào ban đêm, tại Thiên
Phật Điện – nơi cất trữ kinh
Phật và Phật tượng trở thành nơi
luyện vơ thường xuyên của vơ tăng
Thiếu Lâm Tự.
Vào
cuối thời nhà Thanh, cùng với sự biến
động của xă hội, triều đ́nh nhà Thanh
đă dần trở nên suy yếu. Chính sách áp
chế cấm luyện vơ từ thời Ung Chính duy tŕ
đến thời Đạo Quang th́ đă trở nên
suy giảm đi nhiều. Tuy vậy, sư tăng
Thiếu Lâm Tự vẫn e ngại sự cấm đoán
của Thanh triều cho nên tiếp tục bí mật
luyện tập. Sau thời Đạo Quang, chính
quyền Măn Thanh hủ bại, xă hội đại
loạn, việc cấm luyện vơ cũng trở nên
không cần thiết, cộng thêm sự ủng hộ
của một số tướng triều Thanh trước
đó đến viếng thăm Thiếu Lâm Tự như
Tưởng Khánh Lân cho nên vơ tăng Thiếu Lâm
dần từng bước công khai luyện vơ.
Bên
cạnh việc lưu truyền rộng răi vơ
thuật Thiếu Lâm trong xă hội, kungfu Thiếu Lâm
vào thời Thanh cũng bắt đầu có sự phân
chia môn phái. Vào cuối thời nhà Thanh, tại phía
Nam Trung Quốc lưu truyền kungfu Thiếu Lâm, xưng
là Thiếu Lâm Nam phái, lấy chùa Thiếu Lâm tại
Tuyền Châu (Phúc Kiến) làm trung tâm, phía Bắc lưu
truyền Thiếu Lâm Bắc phái, lấy chùa Thiếu
Lâm tại Tung Sơn (Hà Nam) làm trung tâm. Do Thiếu Lâm
Nam phái trọng quyền pháp, Bắc phái trọng cước
pháp nên mới có câu “ Nam quyền Bắc cước”.
Ngoài ra vào thời kỳ này c̣n phân chia vơ thuật
Thiếu Lâm thành : Thiếu Lâm Quảng Đông,
Thiếu Lâm Phúc Kiến, Thiếu Lâm Nga Mi…sự phân
chia này vẫn chưa t́m được trong sử
liệu thời Thanh. Trên thực tế, các loại
kungfu Thiếu Lâm lưu truyền trong dân gian đều
có sự khác biệt với đặc điểm cơ
bản của Thiếu Lâm quyền chính tông là “
quyền đánh một đường thẳng”,
“quyền đánh nơi trâu nằm”…Có điều
này là bởi v́ vào thời Thanh, có nhiều vơ
thuật gia xưng là đệ tử của phái
Thiếu Lâm nhưng kỳ thực là sử dụng vơ
thuật dân gian cổ truyền, không phải là kungfu
chính tông của Thiếu Lâm.
Sự
phát triển mạnh mẽ của vơ thuật
Thiếu Lâm thời Thanh chủ yếu thể hiện
trên phương diện ấn phẩm vơ thuật.
Tuy
có sự cấm đoán của Thanh triều nhưng sách,
tài liệu vơ thuật của Thiếu Lâm Tự không
ngừng ra đời. Tài liệu vơ thuật Thiếu
Lâm nổi tiếng nhất vào thời kỳ này đó
là “ Quyền Kinh – Quyền Pháp Bí Yếu” , đây
là di tác của ḥa thượng Huyền Cơ
viết từ cuối thời Minh đầu thời
Thanh, sau đó được Trương Khổng Siêu
chỉnh lư. Sau khi viết xong, cuốn sách này vẫn
không được in ấn mà chỉ truyền nhau chép
tay. Sau đó phải đến năm 1929 mới
được Nhà xuất bản Đại Thanh Thư
Cục Thạch xuất bản và sau đó Đảm
Ẩn Lư chính thức cho in ấn và công bố vào
năm 1936.
Vào
thời Thanh Càn Long năm thứ 27 (1762) tài liệu in
“Thiếu Lâm Y Bát” cũng là tác phẩm Thiếu Lâm
kungfu tương đối sớm. Nội dung của
nó ghi chép Thiếu Lâm y bát chân truyền, La Hán đoản
đả đồ, La Hán binh đao, La Hán hành công,
binh khí, khẩu quyết…
Cuối
thời Thanh, tài liệu ấn phẩm về Thiếu
Lâm kungfu càng nhiều như: “ Nội Công Đồ
Thuyết “ của Vương Tổ Nguyên, “
Thiếu Lâm đơn đao phổ” của Tưởng
Bằng Trác vào thời vua Hàm Phong (Thanh). Thậm chí
đến năm thứ 3 Tuyên Thống (1911), “Thiên
Phong Báo” của Thượng Hải c̣n công khai
đăng tải “ Thiếu Lâm Tông Pháp” được
coi là tài liệu có tính chất phản Thanh.
Vơ
thuật Thiếu Lâm thời kỳ Trung Hoa dân quốc
Vào
thời kỳ Trung Hoa Dân Quốc (1911-1949), tuy Thiếu
Lâm Tự có sự suy giảm ít nhiều, nhưng
hoạt động luyện vơ của sư tăng
vẫn được duy tŕ liên tục. Vào đầu
thời kỳ này có hai đại sư nổi
tiếng nhất là Hằng Lâm và Diệu Hưng.
Đại sư Hằng Lâm tinh thông các loại công
pháp của Thiếu Lâm, từng nhậm chức giáo
đầu vơ tăng và trụ tŕ Thiếu Lâm Tự,
đệ tử khá nhiều. Thời gian này xă
hội loạn lạc, thổ phỉ nhiều, đại
sư Hằng Lâm đă từng nhậm chức
Tổng đoàn bảo vệ Thiếu Lâm Tự,
dẫn vơ tăng giao chiến nhiều lần với
thổ phỉ và giành chiến thắng vang dội.
Diệu Hưng là đệ tử của Hằng Lâm,
ông tinh thông quyền, binh khí Thiếu Lâm, phương
pháp điểm huyệt, cầm nă, khí công…Sau khi
Hằng Lâm lên trụ tŕ Thiếu Lâm Tự, Diệu
Hưng đă mạnh dạn phá bỏ tập tục
“ngoại bất truyền” của Thiếu Lâm
Tự, ông đă tổ chức truyền thụ vơ công
Thiếu Lâm cho rất nhiều tục gia đệ
tử (những người không tu hành tại
Thiếu Lâm Tự).
Trong
thời kỳ Dân quốc, Thiếu Lâm Tự c̣n
cống hiến cho nhà nước hai vị tướng
quân là Hứa Thế Hữu và Tiền Điếu.
Từ năm 1914 đến năm 1921, Hứa Thế
Hữu tham gia công tác tạp dịch trong Thiếu Lâm
Tự, luyện vơ suốt 8 năm liền. Đến
năm 16 tuổi khi ra khỏi Thiếu Lâm Tự, ông
đă nắm bắt được rất nhiều
tuyệt kỹ kungfu Thiếu Lâm. Tiền Điếu năm
13 tuổi (1916) vào Thiếu Lâm Tự làm tạp
dịch, tập vơ 5 năm, luyện thành công tuyệt
kỹ Chu Sa Chưởng. Sau đó hai người
tận dụng vơ công đă học được
ở Thiếu Lâm Tự, không ngừng anh dũng
chiến đấu trên chiến trường, lập
nhiều chiến công hiển hách. Năm 1955 Hứa
Thế Hữu được
phong hàm Thượng
tướng
c̣n Tiền Điếu được
phong hàm Trung tướng.
Năm
1928, quân Quốc dân tiến hành Bắc phạt, quân Hà
Nam do Phàm Trung Tú thống lănh, dùng Thiếu Lâm Tự
làm Bộ tư lệnh. Nhưng bị quân Quốc dân
do Thạch Hữu Tam chỉ huy đánh bại, sau
đó Thạch Hữu Tam công tiếp vào Thiếu Lâm
Tự, dùng lửa thiêu cháy một số điện
đường quan trọng của Thiếu Lâm Tự,
một bộ phận tài liệu kungfu Thiếu Lâm cũng
bị thiêu hủy, sư tăng trong chùa tán loạn
tứ phương. Thiếu Lâm Tự lại rơi vào
hoàn cảnh khốn khó trong lịch sử. Sau khi
Thiếu Lâm Tự bị hỏa thiêu, các vơ tăng
Trinh Tự, Tố Điển, Đức Thiền cùng
tiến hành bàn bạc khôi phục lại Kungfu
Thiếu Lâm, hiệu triệu vơ tăng hoàn tục là
đại sư Ngô Tam Lâm trở lại Thiếu Lâm
Tự để kết hợp huấn luyện vơ tăng,
bồi dưỡng ra Đức Căn, Hành Chương
và hơn 40 vơ tăng ưu tú khác. Năm 1946, nhận
lời mời trụ tŕ, Hải Đăng pháp sư
nhậm chức trụ tŕ Thiếu Lâm Tự, đồng
thời làm giáo sư vơ thuật cho Thiếu Lâm
Tự.
Trong
thời kỳ Dân quốc, vơ thuật Thiếu Lâm lưu
truyền rộng thêm một bước, đặc
biệt là tại các khu vực lân cận thuộc
Đăng Phong, Thiếu Lâm kungfu bắt đầu
từng bước nhân rộng vào nhân dân, tại
Thiếu Lâm Tự thôn, Tháp Câu thôn, Nam Chiếu Câu thôn,
Ma Câu thôn, Lạc Đà thôn, Lôi thôn, Nguyễn thôn, Văn
thôn…người tập vơ Thiếu Lâm nhiều vô
kể, h́nh thành các thôn vơ Thiếu Lâm. Năm 1937 khi
chiến tranh kháng Nhật bùng nổ, 9 huyện
thuộc phía Tây tỉnh Hà Nam đă thành lập “
Thiếu Lâm vơ thuật cứu quốc hội”,
tại Đăng Phong, Lâm Nhữ, Củng Huyện có
đến hàng trăm ngàn người tham gia, qua đó
có thể thấy mức độ phổ cập vơ
thuật Thiếu Lâm lớn mạnh như thế nào.
Nh́n một cách tổng thể toàn Trung Quốc, vào
thời kỳ này người luyện tập,
biểu diễn vơ thuật Thiếu Lâm cũng như
việc thành lập các tổ chức vơ thuật
nhiều vô kể. Sự ra đời của Trung
Ương Quốc Thuật Quán (tương
đương với Viện vơ thuật hiện nay)
là nhằm xây dựng, quy phạm lại tất
cả các giáo tŕnh, huấn luyện đối
với hai môn phái lớn là Thiếu Lâm và Vơ Đang.
Trong
thời kỳ Dân quốc, đă xuất hiện làn sóng
chỉnh lư và xuất bản tài liệu vơ thuật
trong xă hội hết sức sôi nổi. Từ
năm 1911 đến năm 1945, theo thống kê toàn
Trung Quốc đă xuất bản khoảng hơn 40
loại sách khác nhau về vơ thuật Thiếu Lâm,
như “ Thiếu Lâm Tự Quyền Thuật Bí
Quyết” của Tôn Vơ Trai, “ Đạt Ma Kiếm”
của Triệu Liên Ḥa, “ Thiếu Lâm Chính Tông
Luyện Bộ Quyền” của Ngô Chí Thanh, “
Thiếu Lâm Thất Thập Nhị Nghệ Luyện Pháp”
của Kim Ân Trung, “ Thiếu Lâm Côn Pháp” của Kim
Dung Tiêu, “ Thiếu Lâm Hộ Sơn Tử Môn La Hán
Quyền” của Chu Hà Thiên…Các sách vơ thuật
Thiếu Lâm xuất bản vào thời kỳ này, ngoài
“ Thiếu Lâm Thất Thập Nhị Nghệ
Luyện Pháp”, “Thiếu Lâm Hộ Sơn Tử Môn
La Hán Quyền” là vơ thuật truyền thống
Thiếu Lâm ra, hầu hết các sách vơ thuật
Thiếu Lâm c̣n lại khác đều thuộc kungfu
Thiếu Lâm đă được du nhập vào dân
gian, đồng thời đă được gia công,
chỉnh lư, chứa đựng thêm số lượng
lượng lớn thành phần vơ thuật dân gian
cổ truyền Trung Hoa. Ví dụ như trong “
Thiếu Lâm Tự Quyền Thuật Bí Quyết” là
du nhập vơ thuật dân gian Nam phái vào trong vơ
thuật Thiếu Lâm, bởi vậy mà công tác
khảo cứu tính thật giả của các tài
liệu lịch sử vơ thuật Thiếu Lâm chân
truyền vào thời kỳ này cũng bắt đầu
xuất hiện. Ví dụ như “ Thiếu Lâm Vơ
Đang khảo”, “ Thiếu Lâm Bí Quyết khảo
chứng” của nhà nghiên cứu vơ thuật
Đường Hào, “ Thiếu Lâm Tông Pháp Đồ
Thuyết khảo chứng” của Từ Chấn có tác
dụng to lớn đối với việc kết
luận bản chuẩn của Kungfu Thiếu Lâm.
Vơ
thuật Thiếu Lâm ngày nay
Sau
khi Nước CHND Trung Hoa được thành lập (năm
1949), vơ thuật Thiếu Lâm được nhà nước
và xă hội hết sức coi trọng, coi đó là di
sản văn hóa quư báu của dân tộc Trung Hoa.
Chức năng của vơ thuật Thiếu Lâm cũng
có sự thay đổi hết sức to lớn,
từ việc sử dụng để chiến đấu
trong quá khứ lịch sử nay được bổ
sung thêm chức năng hoạt động thể
dục tăng cường sức khỏe của người
dân, do đó được phổ cập rộng răi
trong nhân dân.
Sự
truyền bá vơ thuật Thiếu Lâm hiện nay
nhằm chủ yếu vào xă hội là chính. Năm
1954, huyện Đăng Phong coi kungfu Thiếu Lâm là
hạng mục trọng yếu hội tông hội
diễn nghệ thuật dân gian. Năm 1959, kungfu
Thiếu Lâm được
coi là hạng mục thể dục tham gia hội
diễn phong trào thể dục tổ chức tại
thành phố Trịnh Châu (thủ phủ tỉnh Hà
Nam
). Trên phương
diện phát triển rộng vơ thuật Thiếu Lâm,
năm 1958 huyện Đăng Phong thành lập Trường
vơ thuật nghiệp dư Đăng Phong, chuyên tu
Thiếu Lâm kungfu, đồng thời mời vơ tăng
nổi tiếng Thích Đức Căn của Thiếu
Lâm Tự làm huấn luyện viên trưởng
của trường. Sau khi giữ chức huấn
luyện viên trưởng, đại sư Thích Đức
Căn đă đào tạo ra một loạt những
nhân tài vơ thuật Thiếu Lâm. Năm 1970, ủy ban
TDTT huyện Đăng Phong cho tổ chức xây
dựng lại Trường vơ thuật nghiệp dư
Đăng Phong, đồng thời mời vơ tăng
hoàn tục Dương Tụ Tài làm huấn luyện
viên trưởng,
sau đó mời thêm vơ tăng Thiếu Lâm là Lương
Dĩ Toàn tham gia phối hợp. Việc bồi dưỡng
ra một loạt những nhân tài vơ thuật Thiếu
Lâm tại trường này có một vai tṛ quan
trọng đối với sự phát triển của
vơ thuật Thiếu Lâm sau này.
Năm
1978, sau khi nhà nước Trung Quốc thực hiện
chính sách mở cửa, vơ thuật Thiếu Lâm đứng
trước cơ hội to lớn chưa từng có
trong lịch sử. Năm 1979, Thập Ngũ Trung
thuộc huyện Đăng Phong lần đầu tiên
cho thành lập Đội vơ thuật Thiếu Lâm chuyên
nghiệp tại trường học. Năm 1980, trường
vơ thuật Thiếu Lâm được thành lập
tại Thập Ngũ Trung, đồng thời do
quyền sư nổi tiếng Thiếu Lâm là Vương
Triều Phàm, Lă Học Lễ, Trịnh Thư Kỳ,
Vương Tông Nhân giảng dạy. Trường vơ
được thành lập giành được
nhiều sự ủng hộ to lớn của các
giới trong xă hội. Năm 1979, Công ty điện
ảnh Trung Nguyên của Hong Kong cho tiến hành quay
bộ phim “ Thập tam ḥa thượng cứu
Đường vương” dựa theo cốt
truyện “ Thập tam ḥa thượng cứu
Đường vương” trong lịch sử. Ban
đầu sử dụng các diễn viên của Hong
Kong và diễn viên của đoàn Kinh kịch tỉnh
Hà Nam. Khi quay được một nửa, do thiếu
vơ thuật chính tông và việc kịch hóa diễn ra
quá lớn , cho nên đổi tên phim thành “ Thiếu
Lâm Tự”, đồng thời cho mời vận
động viên vơ thuật nổi tiếng toàn Trung
Quốc là Lư Liên Kiệt thủ vai chính. Năm 1980
bộ phim được tiếp tục quay tại
Thiếu Lâm Tự. Năm 1982 khi được tŕnh
chiếu lần đầu tiên tại Hong Kong và Trung
Hoa đại lục, bộ phim đă dành được
sự chú ư và đánh giá cao của nhiều khán
giả trên thế giới. Bởi v́ những cảnh
trong phim là kungfu thật, vơ thuật Thiếu Lâm chính
tông. Chính từ sau khi tŕnh chiếu bộ phim này mà
đă h́nh thành nên làn sóng luyện vơ thuật
Thiếu Lâm của nhiều nước trên thế
giới, hàng năm có biết bao nhiêu người
đă đến Thiếu Lâm Tự để học
tập. Năm 1986 Thiếu Lâm Tự thành lập
Hội nghiên cứu quyền pháp Thiếu Lâm do pháp sư
Hành Chính làm hội trưởng, Vĩnh Tín, Ấn Tông
làm phó Hội trưởng, tiến hành cho khai thác và
chỉnh lư Thiếu Lâm kungfu, xuất bản tạp chí
“ Thiếu Lâm Quyền”. Sau đó Thiếu Lâm
Tự thành lập vơ tăng đoàn, nhiều lần
tổ chức ra nước ngoài biểu diễn để
tuyên truyền vơ thuật Thiếu Lâm. Cùng năm này,
nhà nước Trung Quốc cho đầu tư hơn
7 triệu nhân dân tệ, xây dựng khu huán luyện
rộng 290.000 mét vuông cách Thiếu Lâm Tự 700 m
về phía Tây, thực hiện chiêu sinh, bồi dưỡng
nhân tài vơ thuật Thiếu Lâm. Khu huấn luyện này
từ tháng 9 năm1988 đến nay đă chiêu sinh hàng
trăm ngàn học viên , trong đó có các học viên
từ nước ngoài như Mỹ, Singapore, Úc,
Thụy Điển, Tây Ban Nha, Pháp, Đức,
Thụy Sỹ…Năm 1999, huyện Đăng Phong
đă phê chuẩn cho thành lập 34 trường vơ
thuật Thiếu Lâm, học viên đến từ
trong và ngoài Trung Quốc có đến hàng vạn người.
Return
to main
|