|
Giới
thiệu về “Khí công kiện thân-Ngũ cầm hư”
Khởi nguồn của Ngũ cầm hư được
bắt đầu từ thời cổ đại
của Trung Quốc. Theo như ghi chép lại của
lịch sử th́ đương thời nước sông
lớn tràn ngập, khí thấp bao phủ khắp
mặt đất, rất nhiều người bị
mắc bệnh “trũng” khớp. V́ lẽ đó người
ta mới nghĩ ra phương pháp múa chân, múa tay
để hoạt động nhằm trừ bệnh này,
đây chính là manh nha khởi nguồn của thuật
đạo dẫn Trung Hoa, chính trong tác phẩm “Lă
thị Xuân Thu” cũng có ghi chép điều này.
Những động tác múa kể trên có quan hệ
mật thiết với những kiểu dáng bay
nhảy, thần thái của một số loài thú.
Trong kho tàng văn hiến khảo cổ của Trung
Quốc, người ta cũng t́m thấy những căn
cứ đó. Trang Tử viết: “ nhả, hô hấp,
nhả cũ nạp mới, hùng kinh điểu thâm,
chính là phép trường thọ vậy”. Trong đó,
“hùng kinh điểu thâm” được hiểu là
sự mô tả một cách h́nh tượng nhưng cũng
rất sinh động của phương pháp
luyện khí công dưỡng sinh qua cách bắt chước
các tư thế, động tác của động
vật.
Đối với nội dung Ngũ cầm hư do Hoa
Đà sáng chế trong “Tam Quốc chí-Hoa Đà
truyện”, Trần Thọ ghi chép từ thời Tây
Tấn rằng : “Đó là phương pháp có tên là
Ngũ cầm hư, mô phỏng động tác của :hổ,
hươu, gấu, vượn, điểu(chim). Phương
pháp này có thể trừ bệnh, làm khỏe đôi
chân”.Ngoài ra trong “Hậu Hán thư-Hoa Đà
truyện” của Phạm Hoa thời Nam Bắc
triều cũng có ghi chép khá tương đồng
như thế.Điều này chứng minh sự
thật là chính Hoa Đà là người sáng chế ra
Ngũ cầm hư, tiếc rằng không có ǵ khác ngoài
văn tự mà thôi.
Từ các tư liệu lịch sử cho thấy, danh
y Đào Hoằng Cảnh thời Nam Bắc triều
trong tác phẩm “Dưỡng sinh diên mệnh lục”
cũng có miêu tả cụ thể động tác
của năm loài thú trên. Do thời Nam Bắc
triều cách thời Đông Hán chưa đến 300
năm cho nên có thể cho rằng những mô tả
động tác này là tương đối sát
với những ghi chép Ngũ cầm hư của Hoa
Đà, tuy nhiên khi luyện tập th́ động tác tương
đối khó. Về sau, trong các tác phẩm như
“Di môn quảng độc” (Chu Lữ Tĩnh-thời
Minh), “Vạn thọ tiên thư-Đạo dẫn biên”
(Tào Vô Cực-Thời
Thanh), “Ngũ cầm vũ công
pháp đồ thuyết” (Tịch Tích Phàn- thời
Thanh) đều dùng h́nh vẽ để mô tả
lại các động tác cũng như phương pháp
luyện Ngũ cầm hư một cách hết sức tường
tận, cụ thể.Ví dụ như ngoài chú thích
về đồ h́nh, họ c̣n giảng giải
cặn kẽ và nêu ra những yêu cầu về
thần thái, đồng thời kết hợp sự
vận hành khí huyết.
Ngũ cầm hư phát triển cho tới nay đă h́nh
thành nên không ít các lưu phái, mỗi một phái
đều mang những phong cách, đặc điểm
không giống nhau. Tuy vậy chúng đều căn
cứ theo các động tác “ngũ cầm”,
mục đích là hoạt động gân cốt, thông
kinh hoạt lạc, pḥng trị tật bệnh, kéo dài
tuổi thọ. Trong số đó có một số th́
chú trọng đến vận động các chi, mô
phỏng động tác “ngũ cầm” nhằm
kiện thân th́ gọi là h́nh thức ngoại công như
ta vẫn thường thấy. C̣n có một số khác
th́ chú trọng đến việc mô phỏng thần
thái của “ngũ cầm”, nhằm vận hành
nội khí, cốt để luyện ư niệm th́
được gọi là h́nh thức nội công. Ngoài
ra c̣n có loại lấy cương làm chủ, thông
qua đánh quyền phát lực để trị
tật bệnh, thậm chí c̣n tán đả, tự
vệ pḥng thân như Ngũ cầm quyền, Ngũ
cầm tán thủ…
Các động tác được biên soạn trong
“Khí công kiện thân-Ngũ cầm hư” được
căn cứ theo ghi chép của “Tam quốc chí-Hoa
Đà truyện”, theo thư tự: Hổ, hươu,
gấu, vượn, chim; các động tác này
đơn giản, dễ học, số lượng th́
được miêu tả theo như “Dưỡng sinh
diên mệnh lục” của Đào Hoằng Cảnh
bao gồm 10 động tác, mỗi hư lại chia thành
2 động tác nhỏ, đồng thời ở khi
bắt đầu và kết thúc th́ tăng cường
thêm khởi thế điều tức và dẫn khí hoàn
nguyên, thể hiện sự hợp nhất của
h́nh,
ư, khí, phù hợp với quy luật vận động
của người trung niên, người cao tuổi. Các
động tác này cơ bản, giản đơn như
khởi thủy của nó,công pháp phù hợp với lư
luận Đông y cơ sở, phối hợp với
học thuyết kinh lạc, tạng phủ vừa có
tác dụng kiện thân, vừa có thêm công năng
đặc biệt của từng hư, như sự dũng
mănh của hổ, thư thái của hươu,
vững chắc của gấu, linh hoạt của vượn,
nhẹ nhàng của chim, yêu cầu thể hiện cái
thần của ngũ cầm, h́nh ư tương tùy,
nội ngoại tương hợp.
Trong các bài viết sau, chúng tôi sẽ lần lượt
giới thiệu với các bạn về đồ h́nh
cũng như hướng dẫn luyện tập công
pháp này.
Phương
pháp luyện tập kiện thân khí công Ngũ cầm
hư
Danh
y Hoa Đà thời Đông Hán đă căn cứ theo
thuật đạo dẫn cổ truyền, thổ
nạp, hùng kinh, điểu thâm, nghiên cứu các
đặc điểm vận động của ngũ
cầm: hổ, hươu, gấu, vượn, chim,
đồng thời kết hợp phủ tạng cũng
như các công năng của kinh lạc và khí
huyết trong cơ thể người để biên
soạn ra thuật đạo dẫn khí công Ngũ
cầm hư như chúng ta đă biết. Ngũ cầm hư
chứa đựng các động tác thuộc y lư, có
tác dụng tăng cướng sức khỏe.
Trong quá tŕnh nghiên cứu và luyện tập Ngũ
cầm hư, người tập phải nắm vững
và xử lư tốt các khâu mấu chốt như : h́nh,
thần, ư và khí.
H́nh: Đây là tư thế h́nh thể khi luyện
công.
Khi bắt đầu luyện, đầu và thân
phải thẳng, thu ngực lại, đồng
thời buông xuôi hai vai, thần thái tự nhiên. Cách này
làm cho các bộ vị cơ thể được
thả lỏng, khoan thai.Khi bắt đầu tập
từng hư, người tập cũng cần phải
dựa theo hàm ư tên gọi của động tác mà
thực hiện tạo h́nh động tác một cách
tương ứng.Đặc biệt cần nhận
biết và phân biệt rơ ràng mức độ lên
xuống, cao thấp, nặng nhẹ, nhanhc hậm, hư
thực của động tác, tuyệt đối không
được cứng nhắc, mà phải thư thái
một cách tự nhiên.
Thần: Tức là thần thái, thần vận.
Gọi là “hư” nghĩa là mang ư vui đùa, nô
giỡn, đây cũng chính là điểm khác
biệt với các công pháp khí công khác. Chỉ
cần nắm bắt được thần thái
của “ngũ cầm” th́ mới có thể thể
hiện ra được các tư thế, động
tác tượng h́nh của loài vật đó.Ví
dụ như như hổ th́ phải oai hùng, dũng mănh,
nh́n chằm chằm, hươu th́ nhẹ nhàng thư
triển, tự do phóng khoáng, gấu th́ vững chăi
bộ pháp, vượn th́ nhanh nhẹn, hoạt bát,
chim th́ chững chạc như hạc, thanh thoát….
Ư: Đó là ư niệm, cũng là sự thay đổi
của hoạt động tư duy và tâm trạng
của con người. Điều này có ảnh hưởng
trực tiếp đến công năng của lục
phủ ngũ tạng. Khi luyện từng hư phải
từng bước lĩnh hội ư của “ngũ
cầm”, bắt chước theo các động tác
của chúng. Khi luyện “hổ hư” phải liên tưởng
tới sự oai hùng của hổ dữ nơi
rừng sâu, vươn vai duỗi chi, vồ mồi;
khi luyện “lộc hư” phải liên tưởng
tới hươu sao ngoài thảo nguyên, mại bộ
nhẹ nhàng….
Khí: Chỉ phương pháp hít thở khi luyện
công.
Đối với người mới tập, trước
tiên cần thuộc các động tác, hiểu hàm nghĩa
của chúng, tập tư thế cho chuẩn xác. Đợi
khi thả lỏng được cơ thể, tinh
thần b́nh tĩnh th́ từng bước điều
chỉnh hô hấp. Sự phối hợp giữa
nhịp thở và động tác cần tuân theo các
quy luật sau: khởi(đưa lên) th́ hít vào,
lạc(hạ xuống) th́ thở ra, khai(mở) th́ hít
vào,hợp (đóng) th́ thở ra, hít trước
thở sau. H́nh thức hít thở chủ yếu có: hít
thở tự nhiên, hít thở bằng bụng, do đó
có thể tùy theo sự biến hóa của từng tư
thế và yêu cầu của ḱnh lực mà áp dụng
h́nh thức nào cho phù hợp.
Ngoài ra trong quá tŕnh luyện tập cũng cần
phải chú ư đến một số quy tắc sau:
1) Từ nông đến sâu. Người mới
học bắt buộc phải thuộc sự thay đổi
và đường đi của từng động tác,nắm
rơ ngọn ngành, đồng thời vừa phải
bắt chước mô phỏng động tác. Sau
đó khi luyện th́ chú ư đến chi tiết
của động tác, tập luyện phân giải
hạ chi, luyện hoàn chỉnh động tác qua
trục eo. Lúc này cần chú ư tiếp đến
sự kết hợp của động tác và nhịp
thở, ư thức và thần thái, phân giải nội
hàm và ư nghĩa của động tác. Trong quá tŕnh
tập tuân thủ từ dễ đến khó, từ
nông đến sâu, từ đơn giản đến
phức tạp, chỉ có như thế th́ mới có
thể luyện tốt cơ bản công, tránh
được sự sai lệch không đáng có.
2) Tùy theo thể trạng.Mỗi người tùy theo
thể trạng, thể lực của ḿnh mà có
sự vận động, tập luyện sao cho phù
hợp. Tốc độ từng động tác, độ
cao thấp của tư thế, phạm vi động
tác, thời gian luyện tập, lượng vận
động có thể thay đổi tùy theo từng người.
Tuy nhiên vẫn theo nguyên tắc là: tinh thần
phải khoan khoái sau khi tập, tâm trạng thảnh thơi,
cơ nhục cảm thấy hơi mỏi chút, nhưng
không thấy mệt mỏi.
<<
Quay trở lại
|