| Sư
tổ Bồ Đề Lạt Ma với vơ thuật
Thiếu Lâm
Ngày
nay, các nhà nghiên cứu lịch sử vơ học đều
thừa nhận, Thiếu Lâm không những là cội
nguồn của nhiều môn vơ khác, mà c̣n
được tôn xưng là Ngôi Sao Bắc Đẩu
trong nền vơ học.
Vơ
học Thiếu Lâm vừa gắn liền với ngôi
cổ tự lịch sử, vừa là kho vơ học vô
cùng đồ sộ. Thật vậy, ngoài những
đường quyền, ngọn cước và sử
dụng đủ loại binh khí (thập bát ban vơ
nghệ), Thiếu Lâm c̣n có những phương pháp
rèn luyện công phu đặc dị như: luyện
nội công, luyện ngoại công, khinh công, ngạch
công,
nhuyễn công, điểm huyệt và giải huyệt,
y dược trị thương và các phương pháp
thu nhận, huấn luyện môn đồ cũng như
phương pháp xây dựng Thiền Viện, Vơ
Đường...
Đồng
thời đó cũng là nơi sản sinh ra nhiều
đoá hóa kỳ tài “danh trấn giang hồ”,
xứng đáng bước vào ngôi vị Minh
Chủ Vơ Lâm, để giữ ǵn ḥa b́nh, không
để vơ lâm nổi sóng gió. Và nhất là, h́nh
ảnh các vị Đại sư, vơ công thâm hậu,
đạo đức cao siêu, luôn ra tay bảo vệ
kẻ cô thế, xua đuổi kẻ hung tàn bạo
ác, đem lại yên b́nh cho quốc gia, cho dân tộc.
Vậy
Vơ học Thiếu Lâm phát xuất từ đâu ? Khi nào
?
Chùa
Thiếu Lâm nằm ở hướng Tây bắc
huyện Đăng Phong, tỉnh Hà Nam, cách Bắc Kinh
600 km về phía Nam và cách Nam Kinh 600 km về phía Tây.
Chùa tọa lạc ở sườn Tây núi Tung Sơn,
mặt đối với núi Thiếu Thất, lưng
dựa Ngũ Nhũ Phong. V́ chùa được xây
dựng trong rừng rậm ở sườn âm núi
Thiếu Thất nên lấy tên là Thiếu Lâm Tự.
Năm
Thái Ḥa thứ 19, Bắc Ngụy (năm 495), vua
Hiếu Văn Đế xây dựng chùa Thiếu Lâm,
ban tặng cho vị cao tăng Ấn Độ tên là
Bạt Đà, dùng để cư trú mà hành đạo.
Vơ học Thiếu Lâm có mặt từ đây.
Ngài
Bồ Đề Đạt Ma, tên thật là Bồ
Đề Đa La, con trai thứ ba của vua Nam Thiên
Trúc, thuộc ḍng Sát Đế Lợi. Về sau Ngài
đi tu và gặp Tổ Bát Nhă Đa La, đời
thứ 27 của Phật giáo Thiên Trúc. Ngài được
truyền Y Bát làm Tổ đời 28. Sau đó vào ngày
21 tháng 7 năm Mậu Tuất (năm 518 sau tây
Lịch) Ngài lên thuyền vượt biển sang trung
Hoa. Ngài tới Quảng Châu vào ngày 1 tháng 10 năm
Đinh Mùi. Vua Lương Vơ Đế hay tin liền
mời Ngài về Kim Lăng để hội kiến,
nhưng v́ ư không hợp nhau nên chia tay.. Đạt ma
Tổ Sư bứt một cọng lau ném xuống
sông,
rồi đứng trên đó mà vượt Trường
Giang (cước đạp lô điệp quá giang).
Năm 1307, ở Tung Sơn Thiếu Lâm Tự có
lập một tượng đá, tạc cảnh Ngài
đạp cọng lau qua sông. Năm Hiếu Xương
thứ ba, đời Bắc Ngụy (527), Ngài Bồ
Đề Đạt Ma đến Tung Sơn Tự.
Tại đây, Ngài thấy nhiều nhà sư có
thể trạng yếu đuối, thường hay
ngủ gật trong lúc Ngài thuyết giảng và không
chịu nổi với khí lạnh bên ngoài của núi
rừng xâm nhập. V́ thế, Ngài quyết định
tham thiền để t́m cách giúp đỡ những
nhà sư này. Kết quả sau 9 năm diện bích
trong động thiếu Thất, Ngài đă đúc
kết hết thảy tinh yếu vào trong hai cuốn
Dịch Cân Kinh và Tẩy Thủy Kinh, trở thành
tỵ tổ của Thiếu Lâm vơ công và cũng là Sơ
Tổ Thiền Tông Trung Hoa.
Theo
“Tổ Tổ tương truyền di ngôn khẩu
quyết văn” và “Bồ đề hành kinh”
th́ Bồ Đề Đạt ma nhập diệt vào
ngày 9 tháng 10 năm Bính Th́n (năm 536 sau TL), nhằm năm
Thiên Giám thứ 2, đời Lương Vơ Đế.
Sau khi Ngài viên tịch, các Đại sư Thiếu Lâm
tiếp tục tập luyện những phương
thức do Ngài truyền lại. Với Dịch Cân Kinh
th́ rèn luyện nội công, c̣n Tẩy Thủy Kinh th́
rèn luyện khí công. Chẳng bao lâu, các Đại sư
nhận ra rằng việc luyện tập Dịch Cân
Kinh và Tẩy Thủy Kinh, không những làm sức
khỏe tăng tiến, cơ thể mạnh mẽ mà
tinh thần càng phấn chấn, trầm tĩnh, có
thể chống lại khí hậu lạnh của núi
rừng, bịnh tật, mệt mỏi sau khi ngồi
thiền và có thể dũng cảm vượt qua
những khó khăn nguy hiểm trong lúc đi hành đạo.
Vơ
thuật được phát triển mạnh mẽ vào
đời Đường (618 - 907), sau khi 13 vơ Tăng
giúp Vua Đường Thái Tông phá trận Vương
Thế Sung (630). Lịch sử vơ thuật Trung Quốc
c̣n nhắc nhở nhiều đến ba vị có công
lớn nhất từ Thiếu Lâm Tự là Chí Tháo,
Huệ Dương và Đàm Tông. Vơ Thuật Thiếu
Lâm nguyên thuỷ có 18 thế chính yếu. Đến
đời Tống, Tống Thái Tổ phát triển thành
32 thế Trường quyền. Một thế kỷ
sau, Giác Viễn Thượng Nhân mở rộng thành
72 thế (thất thập nhị huyền công). Từ
đó, trải qua các thời đại, các Đại
sư không ngừng rèn luyện và sáng tác thêm,
khiến cho vơ thuật Thiếu Lâm ngày càng phong phú và
đồ sộ. Đến đời nhà Minh, tùy theo
sở thích, căn cơ và phong thổ mà môn phái
Thiếu Lâm chia làm hai hệ phái: Bắc phái (bắc
cước) và Nam phái (Nam quyền). Đỉnh cao
của vơ thuật Thiếu Lâm là vào đời nhà
Thanh, thời Ngài Chí Thiện Thiền sư, không
những vơ học phát triển trong Tăng nhân mà c̣n
truyền ra bên ngoài, đi vào đời sống người
dân, tạo nguồn sức sống mạnh mẽ, nâng
cao tinh thần thượng vơ, cứu nguy giúp nước.
Chùa
Thiếu Lâm bị hủy hoại một phần vào
những năm 556, 962 và 844. Chùa bị cháy ba lần vào
những năm 612, 1736 và 1928. Điều may mắn là
mỗi lần cháy chùa chỉ bị hủy hoại
một phần, ngay cả lần binh lính Măn Thanh
tấn công chùa. Sau thời kỳ cách Mạng Văn Hóa,
Trung Quốc coi vơ thuật Thiếu Lâm là di sản văn
hóa dân tộc cần được bảo tồn. Chùa
Thiếu Lâm được trùng tu vào những năm
cuối thập kỷ 70.
Như
trên đă nói, các vị Đại Sư Thiếu Lâm
không những vơ công tuyệt thế, nội công thâm
hậu mà c̣n có vơ đức sáng ngời. Trong môn
đồ Thiếu Lâm Tự, c̣n lưu truyền
lời dạy của Đại sư Hạnh Ẩn,
và xem đó là tấm gương soi ḿnh, là mục
đích luyện vơ của ḿnh: “Nếu có một
kẻ nào đó, mà kẻ ấy là một người
vô đạo đức xin được truyền
thụ vơ công, Ta sẽ không dạy cho hắn điều
ǵ cả, dù kẻ ấy muốn dâng cho Ta ngàn vàng.
Con có thể biến đá thành vàng, một khi con
hấp thụ được vơ thuật chân
truyền từ Thiếu Lâm”, và khi mà chúng ta
được chân truyền từ vơ học Thiếu
Lâm th́ “con có thể xuyên qua kim cang thạch bích.
Vận dụng cơ thể phát sinh ḱnh lực
cần có và phải chắc chắn rằng con không
sợ hăi để con đủ can đảm. Khi xoay
ḿnh phải nhanh và uy lực như một cơn
lốc di chuyển khỏi thế bất lợi mà thân
người vẫn đúng tư thế, chiếm lĩnh
vị trí thuận lợi. Cái duỗi tay của con như
mây che lấp ánh trăng và đứng vững trên
đôi chân của con tựa như thế núi. Hông
của con trầm xuống làm vững chắc bộ
tấn, nhờ thế mà con không bị đánh ngă. Rèn
luyện và rèn luyện măi, nếu con là người
nghiêm túc th́ không để thời gian trôi qua vô ích...”
Như
vậy, chúng ta thấy vơ đức chính là linh
hồn của vơ thuật, việc tôn cao vơ đức
là truyền thống từ xưa đến nay
của giới vơ thuật. Một vị vơ sư,
nội công thâm hậu, vơ công trác tuyệt mà không có
vơ đức, mang đầy tà tâm th́ sẽ gây cho
giang hồ nhiều sóng gió, chắc chắn bị vơ
lâm đồng đạo chê trách và bị tiêu
diệt. C̣n vị được bầu làm Minh
Chủ Vơ Lâm th́ không những vơ công cao siêu mà c̣n có
vơ đức sáng ngời.
Tiên
sư nói: “Tập vơ giả thượng đức
bất thượng lực” nghĩa là, tập vơ
chuộng đức không chuộng sức. Sức tuy
đả thương người nhưng chưa
chắc tâm phục, c̣n có đức tuy lực kém mà
mọi người tâm phục khẩu phục. Cho nên
Đức là phẩm chất của người
luyện vơ, là tiêu chuẩn để dự đoán
một người mới học vơ có thể đạt
được chân công hay không.Các đại sư
tiền bối Thiếu Lâm rất chú trọng đến
việc huấn luyện và bồi dưỡng vơ
đức, đă chế ra một hệ thống các
quy định giới cấm, bắt buột người
học Thiếu Lâm phải tuân thủ nghiêm ngặt.
Thời nhà Minh, trong Thiếu Lâm thập điều
giới ước có ghi: “... truyền dạy học
tṛ cần chọn lọc thận trọng, nếu xác
nhận là kẻ sĩ thật thà giản dị,
hồn hậu, trung nghĩa th́ có thể đem kỹ
thuật truyền cho...”; “... người tập
luyện ấy khỏe thể xác, tâm hồn làm tôn
chỉ trọng yếu, quen luyện tậm sớm
tối không được tùy ư ngưng nghỉ...”;
“...lấy ḷng từ bi của Phật gia làm gốc,
tinh thông vơ nghệ chỉ để tự vệ, không
v́ huyết khí cương cường mà ham đấu
đá...”; “...b́nh nhật phải tôn kính Sư trưởng,
không được có hành vi chống cự hoặc
ngạo mạn...”.
Như vậy, chúng ta thấy người học vơ
phải lấy việc rèn luyện thân tâm làm tôn
chỉ, lấy tự vệ làm đức tín,
phản đối việc cậy khỏe đấu
đá, cậy mạnh hiếp yếu mà phải
“lấy đức dày chở vật” cứu
khốn phù nguy.
Vơ
đức c̣n thể hiện qua cách ôm quyền bái chào
trong lúc luyện tập hay diễn quyền. Khi bước
vào buổi tập, hay diễn quyền, chúng ta thường
bái để biểu lộ sự tôn kính vị khai sáng
vơ học, c̣n chào là biểu lộ sự cung kính người
Thầy đang trực tiếp hướng dẫn cho
chúng ta. Ôm quyền chào c̣n gọi là mời quyền,
là chiêu thế mang tính lễ nghi trong vơ thuật,
đồng thời, ôm quyền chào biểu hiện
sự khiêm tốn, lễ độ, là bộ phận
đạo đức trong quyền, là đầu
mối tốt đẹp của bài múa và tiêu chí
một môn quyền thuật nào đó, có thể
phản ảnh được tôn chỉ và bộ
mặt tinh thần của môn phái. Người tập
vơ không chỉ ôm quyền làm lễ mà ư ở
chỗ tránh làm đối phương hoài nghi, cũng
đồng thời, tránh đối phương có
khả năng che giấu cơ hội sát hại
bằng tay. Trong vơ thuật có nhiều cách chào khác
nhau, tùy theo môn phái, quốc gia; môn phái Phật gia thường
chào hợp chưởng.
Từ năm 1986, người ta chế định ra
quy cách chào ôm quyền thống nhất với hàm nghĩa
mới mẻ, tay phải nắm thành quyền với
ư “lấy vơ kết bạn”; tay trái gập ngón cái
không tự cao tự đại, chưởng trái che
quyền phải với ư quyền do lư tới;
bốn ngón chưởng trái x̣e sát nhau, ư nói đồng
đạo vơ lâm bốn biển đoàn kết, cùng ḷng
mở mang vơ thuật.
Luyện
tập Thiếu Lâm đ̣i hỏi chúng ta phải kiên
tŕ, phải lập chí cầu học, phải lập
tâm khổ luyện. Tục ngữ có nói : “Ngật
đắc khổ trung khổ, phương vi nhân thượng
nhân” nghĩa là, nuôi được cái khổ
nhất trong cái khổ th́ mới có thể làm
bậc Thượng Nhân được. Nên người
học vơ Thiếu Lâm phải bền ḷng vững chí
“Trời nóng không sợ đổ mồ hôi,
trời lạnh không sợ cóng tay chân, bệnh
vặt không nghỉ, mang bệnh luyện công, gió mưa
không ngại, ngày ngày như một, năm năm như
một”.
Vơ
học Thiếu Lâm, cũng là sự kết hợp
nhuần nhuyễn giữa nội công và ngoại công.
Nội công là chỉ sự tu luyện về khí
huyết, nội khí, kinh mạch, tinh thần. Ngoại
công là sự rèn luyện cơ bắp, gân cốt, ḱnh
lực như : Thiết Sa Chưởng, Thiết Tư
Chuyên...
Và
điểm đặc biệt nữa của vơ
thuật Thiếu Lâm là “Quyền Thiền Nhất
Thể”. Quyền Thiền Nhất Thể tức là
phương pháp kết hợp giữa Thiền và
Quyền, phương pháp cụ thể là lấy
“tọa thiền công” làm pháp luyện nội công
chủ yếu (dùng các h́nh thức tọa thiền
để luyện Tinh Khí Thần); thông qua tập
trung tư tưởng (ư thủ đan điền), bài
trừ tạp niệm, tiến hành điều tâm,
điều tức, điều thân; thông qua Phật
học, thanh quy Phật môn, để bồi dưỡng
tiết tháo và vơ đức; thông qua tu tâm dưỡng
tánh, bồi bổ nguyên khí, tu luyện vơ đức,
đạt đến cảnh giới “quyền
thiền hợp nhất”. Như thế quyền và
thiền có mặt trong nhau, hỗ tương cùng nhau
phát triển.
Bây
giờ, Vơ học phát triển, Thiếu Lâm có mặt
khắp nơi, không kể Đông Tây Nam Bắc và tùy
theo phong thổ mỗi quốc gia mà có những nét
đặc sắc riêng. Theo Lịch sử Vơ Học
Thế Giới chép rằng, các môn phái Nga My, Không
Động, Vơ Đang xuất phát từ Thiếu lâm
tự; Karatedo, Taekwondo, Judo phát xuất từ cương
quyền, nhu quyền, nhu thuật của Thiếu Lâm
tự; Kiếm đạo của Nhật Bản, vơ
đạo trên thế giới đều tôn Ngài
Bồ Đề Đạt Ma làm thủy tổ. Như
vậy, chúng ta thấy, bao nhiêu hoa trái xum xuê vươn
lên từ cây đại thọ thiền học hay vơ
học ở Trung Hoa và Việt Nam đều vươn
lên từ Ngài Bồ Đề Đạt Ma, nên chúng
ta có thể nói thiền và vơ thuật cùng chung
gốc và có mối quan hệ rất mật thiết.
Và
dĩ nhiên, Vơ học Thiếu Lâm truyền vào
Việt Nam cũng là do các danh tăng Trung Hoa sang
truyền đạo, nên thịnh hành trong chùa trước
và từ đó phát triển, cải biến phù
hợp với người dân Việt. Đó là
Việt Vơ Đạo (Vovinam)
Qua
đây, chúng ta thấy những luồng sức
mạnh tiết ra từ vơ học, len lơi trong tâm
khảm của mỗi con người, làm cho đời
sống con người cao quư. Tinh thần thượng
vơ được đề cao, nhất là đời
sống được hiển bày, khiến con người
đi đến với nhau trong niềm tin chân
thật, trong sáng, chắc chắn quốc gia hưng
thịnh, dân tộc vinh quang. 0
| Chuyện
về Bồ Đề Lạt Ma |
| Được
gửi vào 09:18 05/24/2005 (được xem 18
lần) |
|
Nhiều
sử sách đă ghi chép lại cuộc đời
của sư tổ Bồ Đề Lạt Ma
với những huyền thoại kỳ bí. Qua
những tài liệu như : “ Cao Tăng
Truyện” của Nam Sơn Đạo Tiên,
“Truyền Đăng Lục” của Thiền Sư
Đạo Nguyên và “ Bích Nham Lục” của
Phật Quả Viên Ngộ th́ những huyền
thoại về ngài được ghi nhận là:
Đạt Ma vượt sóng biển qua Đông
Độ, Đạt Ma đi bè lau qua sông Dương
Tử, Đạt Ma xách hài phi hành trên dăy núi
Thống Lănh, Đạt Ma tọa thiền ,
ngủ gục, cắt mí mắt, rơi xuống
thành cây trà đầu tiên1…..Tất
cả những
huyền thoại kỳ bí này nhằm để
thi vị hóa sự
tôn kính tối cao của người
đời đối với cuộc đời
dọc ngang của sư
tổ Bồ Đề Đạt
Ma, một nhân vật siêu phàm, xuất chúng
về tư tưởng,
học thuật, một tâm hồn phóng khoáng, siêu
thoát, phá chấp nghịch đời. Ngài đă
hiên ngang chủ trương chống lại các
triết thuyết theo sách số, giáo điều
đương thời. Sư
tổ Bồ Đề Đạt Ma đă đi vào
ḷng nhân loại trong suốt 15 thế kỷ qua,
bằng nhiều nghi án lịch sử quan trọng,
bên cạnh những huyền thoại kỳ bí,
đă khiến cho một số học giả
Đông Tây đặt thành nghi vấn và phủ
nhận về nhân vật, cuộc đời
của ngài như : Phùng Hữu Lam ( Trung Hoa),
P.Pelliot , Conze,…Trái lại, sự hiện hữu
của ngài đă được chấp nhận
qua nhiều sử sách, đại diện gồm
có các học giả: Hồ Thích (Trung Hoa), Prahoth
Chandra Bagchi (Ấn Độ), Suziki (Nhật
Bản), Watts,
Hebert, Watanabe,
Dumoulin…và các sách “ Lịch sử
Phật giáo Trung Quốc”, sách
“ Vơ thuật tùng thư” của Tường B́nh
Công Chúa con vua Ung Chính đời nhà Thanh.
Bồ Đề Lạt Ma tên thật là
Bồ Đề Đa La2, con thứ ba
của vua Chí Vương, thuộc ḍng Sát Đế
Ly nước Quốc Hương, Nam Thiên Trúc3
(thuộc phía nam Ấn Độ). Bồ Đề
Lạt Ma là pháp hiệu được
đặt khi bái sư với ngài Bát Nhă Đa La4,
một sư tổ Thiền Tông đời
thứ 27 của Ấn Độ. Một hôm ông
gọi Bồ Đề Đạt Ma đến
truyền pháp và dạy rằng: “ Sáu mươi
năm sau ngày ta viên tịch, đệ tử
nên lưu hành sang Đông Độ-Trung Hoa
truyền đạo, v́ môi trường hướng
Đông rất thích hợp với Thiền Tông”.
Tiếp theo đó, Bồ Đề Đạt
Ma được sư phụ truyền thụ y bát
để tiếp tục kế thừa nhiệm
vụ Tổ Thiền Tông đời thứ 28.
Tại Ấn Độ, Sư tổ Bồ
Đề Đạt Ma nhận thấy niềm tin
của Phật giáo bị xáo trộn, v́ sự phân
hóa của Phật giáo gây nên bởi sáu đại
môn đồ của ngài Phật Đà Tiên,
kết quả là trở thành sáu đại tông
phái khác nhau, với tư tưởng xa dần
với nguyên lư Phật giáo như: Hữu Tướng
Tông, Vô Tướng Tông, Định Huệ Tông,
Giới Hạnh Tông, Vô Đắc Tông, Tịch
Tịch Tông. Do đó ngài đă ra công thuyết
phục được 6 vị này trở về
với nguồn chính phái của đạo
Phật. Ngoài ra ngài cũng cảm hóa được
vua Dị Kiến tỉnh ngộ, v́ vua tin vào các
tà thuyết, xúi dục, ngăn cấm, sự bành
trướng của Phật giáo Ấn Độ
lúc bấy giờ.
Để
thực hiện được lời di huấn
của thầy ḿnh, vào năm 517, Sư tổ
Bồ Đề Lạt Ma từ giă Ấn Độ,
dùng thuyền vượt biển. Sau 3 năm ṛng,
ngài đặt chân đến Quảng Châu (Trung
Hoa) vào ngày 21 tháng 9 năm 520 (Canh Tư) triều Lương
Vơ Đế niên hiệu Phổ Thông năm
thứ bảy.
Đến
ngày 1 tháng 10 năm 520, ngài được vua Lương
Vơ Đế triệu vào cung Kim Lăng giảng
đạo. Sau mười chín ngày thuyết
giảng tại triều đ́nh, ngài thất
vọng v́ căn cơ của nhà vua và các
triều thần không thể lănh hội nổi các
tư tưởng Thiền của ngài.Trong đề
tài Đạt Ma Huyết Mạch Luận gồm có:
Phật Tâm, Phật Tính và Pháp Thân,…ngài tự
than với bài kệ sau:
“
Nhất tiễn tầm thường, lạc
nhất điêu
Cảnh
gia nhất tiễn, dĩ tương thiêu
Trực
quy thiếu thất, phong tiền tọa
Lương
chúa hưu ngôn, cảnh khứ chiêu”
Tạm
dịch nghĩa như sau:
“Mỗi
mũi tầm thường, lạc chim điêu
Mũi
tiếp dồn thêm, đốt cháy tiêu
Trực
chỉ Thiếu Lâm, ngồi vách đá
Vua
Lương thôi chớ, thỉnh cùng kêu”
Sau
đó ngài từ giă cung Kim Lăng, vượt sông
Dương Tử, qua vùng phía Bắc. Nơi đây
thuộc nước Ngụy, ngài đến
Lạc Dương (thuộc tỉnh Hà Nam ngày nay)
và dừng chân tại Thiếu Lâm Tự vào ngày
23 tháng 11 năm 520 (Canh Tư) thời Hậu Ngụy,
vua Hiếu Minh Đế, hiệu Chính Quang năm
thứ nhất. Tại Thiếu Lâm Tự, ngài
tọa thiền, mặt hướng về phía vách
đá để tham thiền nhập định.
Người đương thời gọi ngài là
Bích Quán Bà La Môn5.
Trong
chín năm “ Diện Bích Tham Thiền”, ngài
đă tiếp độ và truyền y bát cho
Nhị Tổ Huệ Khả6. Sau đó
lần lượt được kế thừa
đến vị Lục Tổ thứ sáu. Sư
tổ Bồ Đề Đạt Ma viên tịch
trong lúc ngồi tham thiền nhập định vào
ngày 05 tháng 10 năm 529. Nhục thân được
an táng tại chùa Đinh Lâm thuộc dăy núi Hùng
Nhĩ, sau đó bài vị được thờ
tại Thiếu Lâm Tự7. Sau đây là
bia văn của vua Lương Vơ Đế tưởng
niệm ngài: “ Thấy như chẳng
thấy.Gặp như chẳng gặp.Đối
mặt như chẳng đối mặt. Xưa
đâu? Nay đâu? Oán bấy! Hận bấy!”
Sử
sách có ghi lại h́nh tượng, vóc dáng của
Sư tổ Bồ Đề Lạt Ma như sau:
“
Sau khi vua Hiếu Trang8 nghe Tống Vân
thuật lại việc gặp mặt Sư
tổ tại núi Thống Lănh, vua liền ra
chiếu hạ lệnh cho Tống Vân hợp cùng
một số đại sư Thiếu Lâm Tự
tổ chức nghênh đón ngài, đồng
thời cho 18 vị danh họa cùng vẽ lại
chân dung củ Bồ Đề Lạt Ma.
Theo
mô tả th́ Sư tổ có dáng h́nh cao lớn,
vạm vỡ, đi đứng khoan thai, nhẹ nhàng.
Lần đầu tiên khi xuất hiện ở
bờ biển Trung Hoa, Sư tổ mặc tăng
phục màu vàng theo lối Ấn Độ.
Về sau ngài hay mặc áo tràng theo kiểu Trung
Hoa, đầu thường phủ một
chiếc khăn để tránh gió sương. Râu,
tóc, lông ngực, lông tay, chân của ngài mọc
nhiều, dài, dày đặc, kỳ lạ khác thường.Chân
trái có đeo một chiếc ṿng bạc,
được gắn với bốn chiếc chuông
vàng nhỏ, khi bước đi tạo nên
tiếng nhạc ngân vang. Hai tay ngài c̣n đeo
chiếc ṿng ngọc, hạt ngọc to như cái
chén. Mũi của Sư tổ to như mũi sư
tử, miệng hay mím chặt, tạo thành
một đường cong, ẩn sau vùng râu
rậm. Đặc biệt nhất là đôi
mắt, đa số người Ấn Độ
đều có đôi mắt với tṛng nâu
hoặc đen, bên trong có h́nh xoắn ốc. Trái
lại, mắt ngài có màu xanh lơ, to và có
vẻ sâu thẳm như hư vô, không có đáy.
Đôi mắt đó thường nh́n trừng
trừng như đứng tṛng bất động.
Nh́n ai như có một mănh lực vô h́nh,
khiến người ta sao xuyến khiếp sợ.
Sau
nửa tháng, mười tám bức chân dung đặc
biệt về Sư tổ Bồ Đề
Lạt Ma được hoàn thành rất đẹp,
trong nhiều tư thế khác nhau, đi, đứng,
ngồi. Mỗi họa sĩ tùy theo sở thích và
khám phá của ḿnh mà vẽ nên. Ngài vẫn vác
chiếc gậy, có treo một chiếc hài, vai mang
túi vải buộc, như lần cuối cùng
Tống Vân gặp trên núi Thống Lănh. Nhưng
chân ngài không đạp trên cành lau, vượt sông
Dương Tử vào một chiều vắng bóng
đ̣ ngang độ khách. Có bức vẽ ngài
đứng sừng sững
trên ḥn đá, bên cạnh một cây tùng. Có
bức vẽ ngài ngồi nh́n vách đá Trấn
Vơ Động theo tích “ Cửu Niên Diện Bích
Tham Thiền”. Có bức vẽ ngài nh́n trực
diện, đôi mắt trợn trừng trừng,
nh́n thẳng vào người đối diện. Có
bức thấy ngài ch́m trong mưa tuyết, đôi
mắt nh́n vào hư vô. Mỗi bức chân dung
quả là một tuyệt tác, nhưng Tống Vân
vẫn cảm thấy thiếu một cái ǵ đó
mà không sao tả được, vẽ ra
được. Nếu có chăng th́ bóng dáng
của ngài chỉ thành h́nh được theo tâm
hồn tưởng tượng của mỗi người.”
Sau
khi hưởng thọ được 89 tuổi, Sư
tổ Bồ Đề Lạt Ma viên tịch vào năm
529 và để lại cho hậu thế hai công tŕnh
khai sáng: Thiền Tông và Vơ Học tại
Thiếu Lâm Tự. Về sau, nhờ vào các
vị sư tổ kế thừa, những học
giả Trung Hoa đă gia công phát huy đưa
Thiền Tông Đạt Ma lên ngôi vị độc
đáo của tông phái Phật Giáo Đại
Thừa. Cũng như vậy, vơ học Thiếu
Lâm trở thành Quốc kỹ, Quốc thuật
của Trung Hoa, một đại môn phái danh
chấn thiên hạ, được mọi người
kính nể trong suốt 15 thế kỷ qua.
Hiện
nay Thiền Tông Đạt Ma và Vơ học
Thiếu Lâm được nhiều người
nghiên cứu và học tập tại nhiều
quốc gia trên thế giới.
Thiền
Tông là tâm hồn, Vơ học là thể xác của
Đạt Ma. Do vậy, sự xuất hiện
của hai nền tư tưởng, học
thuật này chính là hiện tượng siêu hóa
nghệ thuật thực sự của con người
Đạt Ma tại Thiếu Lâm Tự. Sư
tổ Bồ Đề Lạt Ma đă thực
sự đi vào huyền sử nhân loại để
sống măi với sự tôn kính cao cả trong tâm
tưởng người đời.
1
từ đó xuất hiện Trà Đạo
2
Bodhi Tara
3
vùng cao nguyên Dekkan
4
Prajanatra
5
theo Cao Tăng Truyện
6
tức Thần Quang
7
theo sách Bích Nham Lục
8
con vua Hiếu Minh Đế, Hậu Ngụy
|
Return to main page
|