WELCOME TO VIETNAMESE SHAOLIN KIENANDO KUNGFU

           

Click here to learn more about shaolin kungfu     

  INTRODUCING     HOME      CONTACT US  LINKS CHI KUNG    ZEN   TAI CHI CHUAN    SHAOLIN  KUNGFU    STYLES   VIETNAMESE KUNGFU HISTORY   SHAOLIN KUNGFU FORMS 
 

 

 

 

Kienando History
Kienando Goal
Kienando System
Enroll&Registration
New class
Class at CSUN
Corbin studio
Schedule
New books
Self-defense
Meditation
Performing
Kienando ca
Kienando forms
Practicing
Styles
Links
Home
Access to website
Free Hit Counter
emailed.gif (14893 bytes)

 

Guest book  

 

  KIENANDO-FORMS 


  
Luong Nghi Kiem

Thanh Long Dao
  Tuc Quyen
 Hong Hoa Quyen
 
 Le Hoa Thuong
    Cuong Dao

 
  Phuc Ho Quyen

   Loi Vu Quyen

 Board breaking



 

 

 

 

 

Đạt mà sư tổ
Sư tổ Bồ Đề Lạt Ma với vơ thuật Thiếu Lâm 

Ngày nay, các nhà nghiên cứu lịch sử vơ học đều thừa nhận, Thiếu Lâm không những là cội nguồn của nhiều môn vơ khác, mà c̣n được tôn xưng là Ngôi Sao Bắc Đẩu trong nền vơ học.

Vơ học Thiếu Lâm vừa gắn liền với ngôi cổ tự lịch sử, vừa là kho vơ học vô cùng đồ sộ. Thật vậy, ngoài những đường quyền, ngọn cước và sử dụng đủ loại binh khí (thập bát ban vơ nghệ), Thiếu Lâm c̣n có những phương pháp rèn luyện công phu đặc dị như: luyện nội công, luyện ngoại công, khinh công, ngạch công, nhuyễn công, điểm huyệt và giải huyệt, y dược trị thương và các phương pháp thu nhận, huấn luyện môn đồ cũng như phương pháp xây dựng Thiền Viện, Vơ Đường...

Đồng thời đó cũng là nơi sản sinh ra nhiều đoá hóa kỳ tài “danh trấn giang hồ”, xứng đáng bước vào ngôi vị Minh Chủ Vơ Lâm, để giữ ǵn ḥa b́nh, không để vơ lâm nổi sóng gió. Và nhất là, h́nh ảnh các vị Đại sư, vơ công thâm hậu, đạo đức cao siêu, luôn ra tay bảo vệ kẻ cô thế, xua đuổi kẻ hung tàn bạo ác, đem lại yên b́nh cho quốc gia, cho dân tộc.

Vậy Vơ học Thiếu Lâm phát xuất từ đâu ? Khi nào ?

Chùa Thiếu Lâm nằm ở hướng Tây bắc huyện Đăng Phong, tỉnh Hà Nam, cách Bắc Kinh 600 km về phía Nam và cách Nam Kinh 600 km về phía Tây. Chùa tọa lạc ở sườn Tây núi Tung Sơn, mặt đối với núi Thiếu Thất, lưng dựa Ngũ Nhũ Phong. V́ chùa được xây dựng trong rừng rậm ở sườn âm núi Thiếu Thất nên lấy tên là Thiếu Lâm Tự.

Năm Thái Ḥa thứ 19, Bắc Ngụy (năm 495), vua Hiếu Văn Đế xây dựng chùa Thiếu Lâm, ban tặng cho vị cao tăng Ấn Độ tên là Bạt Đà, dùng để cư trú mà hành đạo. Vơ học Thiếu Lâm có mặt từ đây.

Ngài Bồ Đề Đạt Ma, tên thật là Bồ Đề Đa La, con trai thứ ba của vua Nam Thiên Trúc, thuộc ḍng Sát Đế Lợi. Về sau Ngài đi tu và gặp Tổ Bát Nhă Đa La, đời thứ 27 của Phật giáo Thiên Trúc. Ngài được truyền Y Bát làm Tổ đời 28. Sau đó vào ngày 21 tháng 7 năm Mậu Tuất (năm 518 sau tây Lịch) Ngài lên thuyền vượt biển sang trung Hoa. Ngài tới Quảng Châu vào ngày 1 tháng 10 năm Đinh Mùi. Vua Lương Vơ Đế hay tin liền mời Ngài về Kim Lăng để hội kiến, nhưng v́ ư không hợp nhau nên chia tay.. Đạt ma Tổ Sư bứt một cọng lau ném xuống sông, rồi đứng trên đó mà vượt Trường Giang (cước đạp lô điệp quá giang). Năm 1307, ở Tung Sơn Thiếu Lâm Tự có lập một tượng đá, tạc cảnh Ngài đạp cọng lau qua sông. Năm Hiếu Xương thứ ba, đời Bắc Ngụy (527), Ngài Bồ Đề Đạt Ma đến Tung Sơn Tự. Tại đây, Ngài thấy nhiều nhà sư có thể trạng yếu đuối, thường hay ngủ gật trong lúc Ngài thuyết giảng và không chịu nổi với khí lạnh bên ngoài của núi rừng xâm nhập. V́ thế, Ngài quyết định tham thiền để t́m cách giúp đỡ những nhà sư này. Kết quả sau 9 năm diện bích trong động thiếu Thất, Ngài đă đúc kết hết thảy tinh yếu vào trong hai cuốn Dịch Cân Kinh và Tẩy Thủy Kinh, trở thành tỵ tổ của Thiếu Lâm vơ công và cũng là Sơ Tổ Thiền Tông Trung Hoa.

Theo “Tổ Tổ tương truyền di ngôn khẩu quyết văn” và “Bồ đề hành kinh” th́ Bồ Đề Đạt ma nhập diệt vào ngày 9 tháng 10 năm Bính Th́n (năm 536 sau TL), nhằm năm Thiên Giám thứ 2, đời Lương Vơ Đế. Sau khi Ngài viên tịch, các Đại sư Thiếu Lâm tiếp tục tập luyện những phương thức do Ngài truyền lại. Với Dịch Cân Kinh th́ rèn luyện nội công, c̣n Tẩy Thủy Kinh th́ rèn luyện khí công. Chẳng bao lâu, các Đại sư nhận ra rằng việc luyện tập Dịch Cân Kinh và Tẩy Thủy Kinh, không những làm sức khỏe tăng tiến, cơ thể mạnh mẽ mà tinh thần càng phấn chấn, trầm tĩnh, có thể chống lại khí hậu lạnh của núi rừng, bịnh tật, mệt mỏi sau khi ngồi thiền và có thể dũng cảm vượt qua những khó khăn nguy hiểm trong lúc đi hành đạo.

Vơ thuật được phát triển mạnh mẽ vào đời Đường (618 - 907), sau khi 13 vơ Tăng giúp Vua Đường Thái Tông phá trận Vương Thế Sung (630). Lịch sử vơ thuật Trung Quốc c̣n nhắc nhở nhiều đến ba vị có công lớn nhất từ Thiếu Lâm Tự là Chí Tháo, Huệ Dương và Đàm Tông. Vơ Thuật Thiếu Lâm nguyên thuỷ có 18 thế chính yếu. Đến đời Tống, Tống Thái Tổ phát triển thành 32 thế Trường quyền. Một thế kỷ sau, Giác Viễn Thượng Nhân mở rộng thành 72 thế (thất thập nhị huyền công). Từ đó, trải qua các thời đại, các Đại sư không ngừng rèn luyện và sáng tác thêm, khiến cho vơ thuật Thiếu Lâm ngày càng phong phú và đồ sộ. Đến đời nhà Minh, tùy theo sở thích, căn cơ và phong thổ mà môn phái Thiếu Lâm chia làm hai hệ phái: Bắc phái (bắc cước) và Nam phái (Nam quyền). Đỉnh cao của vơ thuật Thiếu Lâm là vào đời nhà Thanh, thời Ngài Chí Thiện Thiền sư, không những vơ học phát triển trong Tăng nhân mà c̣n truyền ra bên ngoài, đi vào đời sống người dân, tạo nguồn sức sống mạnh mẽ, nâng cao tinh thần thượng vơ, cứu nguy giúp nước.

Chùa Thiếu Lâm bị hủy hoại một phần vào những năm 556, 962 và 844. Chùa bị cháy ba lần vào những năm 612, 1736 và 1928. Điều may mắn là mỗi lần cháy chùa chỉ bị hủy hoại một phần, ngay cả lần binh lính Măn Thanh tấn công chùa. Sau thời kỳ cách Mạng Văn Hóa, Trung Quốc coi vơ thuật Thiếu Lâm là di sản văn hóa dân tộc cần được bảo tồn. Chùa Thiếu Lâm được trùng tu vào những năm cuối thập kỷ 70.

Như trên đă nói, các vị Đại Sư Thiếu Lâm không những vơ công tuyệt thế, nội công thâm hậu mà c̣n có vơ đức sáng ngời. Trong môn đồ Thiếu Lâm Tự, c̣n lưu truyền lời dạy của Đại sư Hạnh Ẩn, và xem đó là tấm gương soi ḿnh, là mục đích luyện vơ của ḿnh: “Nếu có một kẻ nào đó, mà kẻ ấy là một người vô đạo đức xin được truyền thụ vơ công, Ta sẽ không dạy cho hắn điều ǵ cả, dù kẻ ấy muốn dâng cho Ta ngàn vàng. Con có thể biến đá thành vàng, một khi con hấp thụ được vơ thuật chân truyền từ Thiếu Lâm”, và khi mà chúng ta được chân truyền từ vơ học Thiếu Lâm th́ “con có thể xuyên qua kim cang thạch bích. Vận dụng cơ thể phát sinh ḱnh lực cần có và phải chắc chắn rằng con không sợ hăi để con đủ can đảm. Khi xoay ḿnh phải nhanh và uy lực như một cơn lốc di chuyển khỏi thế bất lợi mà thân người vẫn đúng tư thế, chiếm lĩnh vị trí thuận lợi. Cái duỗi tay của con như mây che lấp ánh trăng và đứng vững trên đôi chân của con tựa như thế núi. Hông của con trầm xuống làm vững chắc bộ tấn, nhờ thế mà con không bị đánh ngă. Rèn luyện và rèn luyện măi, nếu con là người nghiêm túc th́ không để thời gian trôi qua vô ích...

Như vậy, chúng ta thấy vơ đức chính là linh hồn của vơ thuật, việc tôn cao vơ đức là truyền thống từ xưa đến nay của giới vơ thuật. Một vị vơ sư, nội công thâm hậu, vơ công trác tuyệt mà không có vơ đức, mang đầy tà tâm th́ sẽ gây cho giang hồ nhiều sóng gió, chắc chắn bị vơ lâm đồng đạo chê trách và bị tiêu diệt. C̣n vị được bầu làm Minh Chủ Vơ Lâm th́ không những vơ công cao siêu mà c̣n có vơ đức sáng ngời.

Tiên sư nói: “Tập vơ giả thượng đức bất thượng lực” nghĩa là, tập vơ chuộng đức không chuộng sức. Sức tuy đả thương người nhưng chưa chắc tâm phục, c̣n có đức tuy lực kém mà mọi người tâm phục khẩu phục. Cho nên Đức là phẩm chất của người luyện vơ, là tiêu chuẩn để dự đoán một người mới học vơ có thể đạt được chân công hay không.Các đại sư tiền bối Thiếu Lâm rất chú trọng đến việc huấn luyện và bồi dưỡng vơ đức, đă chế ra một hệ thống các quy định giới cấm, bắt buột người học Thiếu Lâm phải tuân thủ nghiêm ngặt. Thời nhà Minh, trong Thiếu Lâm thập điều giới ước có ghi: “... truyền dạy học tṛ cần chọn lọc thận trọng, nếu xác nhận là kẻ sĩ thật thà giản dị, hồn hậu, trung nghĩa th́ có thể đem kỹ thuật truyền cho...”; “... người tập luyện ấy khỏe thể xác, tâm hồn làm tôn chỉ trọng yếu, quen luyện tậm sớm tối không được tùy ư ngưng nghỉ...”; “...lấy ḷng từ bi của Phật gia làm gốc, tinh thông vơ nghệ chỉ để tự vệ, không v́ huyết khí cương cường mà ham đấu đá...”; “...b́nh nhật phải tôn kính Sư trưởng, không được có hành vi chống cự hoặc ngạo mạn...”. Như vậy, chúng ta thấy người học vơ phải lấy việc rèn luyện thân tâm làm tôn chỉ, lấy tự vệ làm đức tín, phản đối việc cậy khỏe đấu đá, cậy mạnh hiếp yếu mà phải “lấy đức dày chở vật” cứu khốn phù nguy.

Vơ đức c̣n thể hiện qua cách ôm quyền bái chào trong lúc luyện tập hay diễn quyền. Khi bước vào buổi tập, hay diễn quyền, chúng ta thường bái để biểu lộ sự tôn kính vị khai sáng vơ học, c̣n chào là biểu lộ sự cung kính người Thầy đang trực tiếp hướng dẫn cho chúng ta. Ôm quyền chào c̣n gọi là mời quyền, là chiêu thế mang tính lễ nghi trong vơ thuật, đồng thời, ôm quyền chào biểu hiện sự khiêm tốn, lễ độ, là bộ phận đạo đức trong quyền, là đầu mối tốt đẹp của bài múa và tiêu chí một môn quyền thuật nào đó, có thể phản ảnh được tôn chỉ và bộ mặt tinh thần của môn phái. Người tập vơ không chỉ ôm quyền làm lễ mà ư ở chỗ tránh làm đối phương hoài nghi, cũng đồng thời, tránh đối phương có khả năng che giấu cơ hội sát hại bằng tay. Trong vơ thuật có nhiều cách chào khác nhau, tùy theo môn phái, quốc gia; môn phái Phật gia thường chào hợp chưởng. Từ năm 1986, người ta chế định ra quy cách chào ôm quyền thống nhất với hàm nghĩa mới mẻ, tay phải nắm thành quyền với ư “lấy vơ kết bạn”; tay trái gập ngón cái không tự cao tự đại, chưởng trái che quyền phải với ư quyền do lư tới; bốn ngón chưởng trái x̣e sát nhau, ư nói đồng đạo vơ lâm bốn biển đoàn kết, cùng ḷng mở mang vơ thuật.

Luyện tập Thiếu Lâm đ̣i hỏi chúng ta phải kiên tŕ, phải lập chí cầu học, phải lập tâm khổ luyện. Tục ngữ có nói : “Ngật đắc khổ trung khổ, phương vi nhân thượng nhân” nghĩa là, nuôi được cái khổ nhất trong cái khổ th́ mới có thể làm bậc Thượng Nhân được. Nên người học vơ Thiếu Lâm phải bền ḷng vững chí “Trời nóng không sợ đổ mồ hôi, trời lạnh không sợ cóng tay chân, bệnh vặt không nghỉ, mang bệnh luyện công, gió mưa không ngại, ngày ngày như một, năm năm như một”.

Vơ học Thiếu Lâm, cũng là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa nội công và ngoại công. Nội công là chỉ sự tu luyện về khí huyết, nội khí, kinh mạch, tinh thần. Ngoại công là sự rèn luyện cơ bắp, gân cốt, ḱnh lực như : Thiết Sa Chưởng, Thiết Tư Chuyên...

Và điểm đặc biệt nữa của vơ thuật Thiếu Lâm là “Quyền Thiền Nhất Thể”. Quyền Thiền Nhất Thể tức là phương pháp kết hợp giữa Thiền và Quyền, phương pháp cụ thể là lấy “tọa thiền công” làm pháp luyện nội công chủ yếu (dùng các h́nh thức tọa thiền để luyện Tinh Khí Thần); thông qua tập trung tư tưởng (ư thủ đan điền), bài trừ tạp niệm, tiến hành điều tâm, điều tức, điều thân; thông qua Phật học, thanh quy Phật môn, để bồi dưỡng tiết tháo và vơ đức; thông qua tu tâm dưỡng tánh, bồi bổ nguyên khí, tu luyện vơ đức, đạt đến cảnh giới “quyền thiền hợp nhất”. Như thế quyền và thiền có mặt trong nhau, hỗ tương cùng nhau phát triển.

Bây giờ, Vơ học phát triển, Thiếu Lâm có mặt khắp nơi, không kể Đông Tây Nam Bắc và tùy theo phong thổ mỗi quốc gia mà có những nét đặc sắc riêng. Theo Lịch sử Vơ Học Thế Giới chép rằng, các môn phái Nga My, Không Động, Vơ Đang xuất phát từ Thiếu lâm tự; Karatedo, Taekwondo, Judo phát xuất từ cương quyền, nhu quyền, nhu thuật của Thiếu Lâm tự; Kiếm đạo của Nhật Bản, vơ đạo trên thế giới đều tôn Ngài Bồ Đề Đạt Ma làm thủy tổ. Như vậy, chúng ta thấy, bao nhiêu hoa trái xum xuê vươn lên từ cây đại thọ thiền học hay vơ học ở Trung Hoa và Việt Nam đều vươn lên từ Ngài Bồ Đề Đạt Ma, nên chúng ta có thể nói thiền và vơ thuật cùng chung gốc và có mối quan hệ rất mật thiết.

Và dĩ nhiên, Vơ học Thiếu Lâm truyền vào Việt Nam cũng là do các danh tăng Trung Hoa sang truyền đạo, nên thịnh hành trong chùa trước và từ đó phát triển, cải biến phù hợp với người dân Việt. Đó là Việt Vơ Đạo (Vovinam)

Qua đây, chúng ta thấy những luồng sức mạnh tiết ra từ vơ học, len lơi trong tâm khảm của mỗi con người, làm cho đời sống con người cao quư. Tinh thần thượng vơ được đề cao, nhất là đời sống được hiển bày, khiến con người đi đến với nhau trong niềm tin chân thật, trong sáng, chắc chắn quốc gia hưng thịnh, dân tộc vinh quang. 0

Chuyện về Bồ Đề Lạt Ma
Được gửi vào 09:18 05/24/2005 (được xem 18 lần)

Nhiều sử sách đă ghi chép lại cuộc đời của sư tổ Bồ Đề Lạt Ma với những huyền thoại kỳ bí. Qua những tài liệu như : “ Cao Tăng Truyện” của Nam Sơn Đạo Tiên, “Truyền Đăng Lục” của Thiền Sư Đạo Nguyên và “ Bích Nham Lục” của Phật Quả Viên Ngộ th́ những huyền thoại về ngài được ghi nhận là: Đạt Ma vượt sóng biển qua Đông Độ, Đạt Ma đi bè lau qua sông Dương Tử, Đạt Ma xách hài phi hành trên dăy núi Thống Lănh, Đạt Ma tọa thiền , ngủ gục, cắt mí mắt, rơi xuống thành cây trà đầu tiên1…..Tất cả những huyền thoại kỳ bí này nhằm để thi vị hóa s tôn kính tối cao của người đời đối với cuộc đời dọc ngang của sư tổ Bồ Đề Đạt Ma, một nhân vật siêu phàm, xuất chúng về tư tưởng, học thuật, một tâm hồn phóng khoáng, siêu thoát, phá chấp nghịch đời. Ngài đă hiên ngang chủ trương chống lại các triết thuyết theo sách số, giáo điều đương thời. Sư tổ Bồ Đề Đạt Ma đă đi vào ḷng nhân loại trong suốt 15 thế kỷ qua, bằng nhiều nghi án lịch sử quan trọng, bên cạnh những huyền thoại kỳ bí, đă khiến cho một số học giả Đông Tây đặt thành nghi vấn và phủ nhận về nhân vật, cuộc đời của ngài như : Phùng Hữu Lam ( Trung Hoa), P.Pelliot , Conze,…Trái lại, sự hiện hữu của ngài đă được chấp nhận qua nhiều sử sách, đại diện gồm có các học giả: Hồ Thích (Trung Hoa), Prahoth Chandra Bagchi (Ấn Độ), Suziki (Nhật Bản), Watts, Hebert, Watanabe, Dumoulin…và các sách “ Lịch sử Phật giáo Trung Quốc”, sách “ Vơ thuật tùng thư” của Tường B́nh Công Chúa con vua Ung Chính đời nhà Thanh.

       Bồ Đề Lạt Ma tên thật là Bồ Đề Đa La2, con thứ ba của vua Chí Vương, thuộc ḍng Sát Đế Ly nước Quốc Hương, Nam Thiên Trúc3 (thuộc phía nam Ấn Độ). Bồ Đề Lạt Ma là pháp hiệu được đặt khi bái sư với ngài Bát Nhă Đa La4, một sư tổ Thiền Tông đời thứ 27 của Ấn Độ. Một hôm ông gọi Bồ Đề Đạt Ma đến truyền pháp và dạy rằng: “ Sáu mươi năm sau ngày ta viên tịch, đệ t nên lưu hành sang Đông Độ-Trung Hoa truyền đạo, v́ môi trường hướng Đông rất thích hợp với Thiền Tông”.

       Tiếp theo đó, Bồ Đề Đạt Ma được sư phụ truyền thụ y bát để tiếp tục kế thừa nhiệm vụ Tổ Thiền Tông đời thứ 28.

       Tại Ấn Độ, Sư tổ Bồ Đề Đạt Ma nhận thấy niềm tin của Phật giáo bị xáo trộn, v́ sự phân hóa của Phật giáo gây nên bởi sáu đại môn đồ của ngài Phật Đà Tiên, kết quả là trở thành sáu đại tông phái khác nhau, với tư tưởng xa dần với nguyên lư Phật giáo như: Hữu Tướng Tông, Vô Tướng Tông, Định Huệ Tông, Giới Hạnh Tông, Vô Đắc Tông, Tịch Tịch Tông. Do đó ngài đă ra công thuyết phục được 6 vị này trở về với nguồn chính phái của đạo Phật. Ngoài ra ngài cũng cảm hóa được vua Dị Kiến tỉnh ngộ, v́ vua tin vào các tà thuyết, xúi dục, ngăn cấm, sự bành trướng của Phật giáo Ấn Độ lúc bấy giờ.

Để thực hiện được lời di huấn của thầy ḿnh, vào năm 517, Sư tổ Bồ Đề Lạt Ma từ giă Ấn Độ, dùng thuyền vượt biển. Sau 3 năm ṛng, ngài đặt chân đến Quảng Châu (Trung Hoa) vào ngày 21 tháng 9 năm 520 (Canh Tư) triều Lương Vơ Đế niên hiệu Phổ Thông năm thứ bảy.

Đến ngày 1 tháng 10 năm 520, ngài được vua Lương Vơ Đế triệu vào cung Kim Lăng giảng đạo. Sau mười chín ngày thuyết giảng tại triều đ́nh, ngài thất vọng v́ căn cơ của nhà vua và các triều thần không thể lănh hội nổi các tư tưởng Thiền của ngài.Trong đề tài Đạt Ma Huyết Mạch Luận gồm có: Phật Tâm, Phật Tính và Pháp Thân,…ngài tự than với bài kệ sau:

 

“ Nhất tiễn tầm thường, lạc nhất điêu

Cảnh gia nhất tiễn, dĩ tương thiêu

Trực quy thiếu thất, phong tiền tọa

Lương chúa hưu ngôn, cảnh khứ chiêu”

 

Tạm dịch nghĩa như sau:

 

“Mỗi mũi tầm thường, lạc chim điêu

Mũi tiếp dồn thêm, đốt cháy tiêu

Trực chỉ Thiếu Lâm, ngồi vách đá

Vua Lương thôi chớ, thỉnh cùng kêu”

 

Sau đó ngài từ giă cung Kim Lăng, vượt sông Dương Tử, qua vùng phía Bắc. Nơi đây thuộc nước Ngụy, ngài đến Lạc Dương (thuộc tỉnh Hà Nam ngày nay) và dừng chân tại Thiếu Lâm Tự vào ngày 23 tháng 11 năm 520 (Canh Tư) thời Hậu Ngụy, vua Hiếu Minh Đế, hiệu Chính Quang năm thứ nhất. Tại Thiếu Lâm Tự, ngài tọa thiền, mặt hướng về phía vách đá để tham thiền nhập định. Người đương thời gọi ngài là Bích Quán Bà La Môn5.

Trong chín năm “ Diện Bích Tham Thiền”, ngài đă tiếp độ và truyền y bát cho Nhị Tổ Huệ Khả6. Sau đó lần lượt được kế thừa đến vị Lục Tổ thứ sáu. Sư tổ Bồ Đề Đạt Ma viên tịch trong lúc ngồi tham thiền nhập định vào ngày 05 tháng 10 năm 529. Nhục thân được an táng tại chùa Đinh Lâm thuộc dăy núi Hùng Nhĩ, sau đó bài vị được thờ tại Thiếu Lâm Tự7. Sau đây là bia văn của vua Lương Vơ Đế tưởng niệm ngài: “ Thấy như chẳng thấy.Gặp như chẳng gặp.Đối mặt như chẳng đối mặt. Xưa đâu? Nay đâu? Oán bấy! Hận bấy!”

Sử sách có ghi lại h́nh tượng, vóc dáng của Sư tổ Bồ Đề Lạt Ma như sau:

“ Sau khi vua Hiếu Trang8 nghe Tống Vân thuật lại việc gặp mặt Sư tổ tại núi Thống Lănh, vua liền ra chiếu hạ lệnh cho Tống Vân hợp cùng một số đại sư Thiếu Lâm Tự tổ chức nghênh đón ngài, đồng thời cho 18 vị danh họa cùng vẽ lại chân dung củ Bồ Đề Lạt Ma.

Theo mô tả th́ Sư tổ có dáng h́nh cao lớn, vạm vỡ, đi đứng khoan thai, nhẹ nhàng. Lần đầu tiên khi xuất hiện ở bờ biển Trung Hoa, Sư tổ mặc tăng phục màu vàng theo lối Ấn Độ. Về sau ngài hay mặc áo tràng theo kiểu Trung Hoa, đầu thường phủ một chiếc khăn để tránh gió sương. Râu, tóc, lông ngực, lông tay, chân của ngài mọc nhiều, dài, dày đặc, kỳ lạ khác thường.Chân trái có đeo một chiếc ṿng bạc, được gắn với bốn chiếc chuông vàng nhỏ, khi bước đi tạo nên tiếng nhạc ngân vang. Hai tay ngài c̣n đeo chiếc ṿng ngọc, hạt ngọc to như cái chén. Mũi của Sư tổ to như mũi sư tử, miệng hay mím chặt, tạo thành một đường cong, ẩn sau vùng râu rậm. Đặc biệt nhất là đôi mắt, đa số người Ấn Độ đều có đôi mắt với tṛng nâu hoặc đen, bên trong có h́nh xoắn ốc. Trái lại, mắt ngài có màu xanh lơ, to và có vẻ sâu thẳm như hư vô, không có đáy. Đôi mắt đó thường nh́n trừng trừng như đứng tṛng bất động. Nh́n ai như có một mănh lực vô h́nh, khiến người ta sao xuyến khiếp sợ.

Sau nửa tháng, mười tám bức chân dung đặc biệt về Sư tổ Bồ Đề Lạt Ma được hoàn thành rất đẹp, trong nhiều tư thế khác nhau, đi, đứng, ngồi. Mỗi họa sĩ tùy theo sở thích và khám phá của ḿnh mà vẽ nên. Ngài vẫn vác chiếc gậy, có treo một chiếc hài, vai mang túi vải buộc, như lần cuối cùng Tống Vân gặp trên núi Thống Lănh. Nhưng chân ngài không đạp trên cành lau, vượt sông Dương Tử vào một chiều vắng bóng đ̣ ngang độ khách. Có bức vẽ ngài đứng sừng sững trên ḥn đá, bên cạnh một cây tùng. Có bức vẽ ngài ngồi nh́n vách đá Trấn Vơ Động theo tích “ Cửu Niên Diện Bích Tham Thiền”. Có bức vẽ ngài nh́n trực diện, đôi mắt trợn trừng trừng, nh́n thẳng vào người đối diện. Có bức thấy ngài ch́m trong mưa tuyết, đôi mắt nh́n vào hư vô. Mỗi bức chân dung quả là một tuyệt tác, nhưng Tống Vân vẫn cảm thấy thiếu một cái ǵ đó mà không sao tả được, vẽ ra được. Nếu có chăng th́ bóng dáng của ngài chỉ thành h́nh được theo tâm hồn tưởng tượng của mỗi người.”

Sau khi hưởng thọ được 89 tuổi, Sư tổ Bồ Đề Lạt Ma viên tịch vào năm 529 và để lại cho hậu thế hai công tŕnh khai sáng: Thiền Tông và Vơ Học tại Thiếu Lâm Tự. Về sau, nhờ vào các vị sư tổ kế thừa, những học giả Trung Hoa đă gia công phát huy đưa Thiền Tông Đạt Ma lên ngôi vị độc đáo của tông phái Phật Giáo Đại Thừa. Cũng như vậy, vơ học Thiếu Lâm trở thành Quốc kỹ, Quốc thuật của Trung Hoa, một đại môn phái danh chấn thiên hạ, được mọi người kính nể trong suốt 15 thế kỷ qua.

Hiện nay Thiền Tông Đạt Ma và Vơ học Thiếu Lâm được nhiều người nghiên cứu và học tập tại nhiều quốc gia trên thế giới.

Thiền Tông là tâm hồn, Vơ học là thể xác của Đạt Ma. Do vậy, sự xuất hiện của hai nền tư tưởng, học thuật này chính là hiện tượng siêu hóa nghệ thuật thực sự của con người Đạt Ma tại Thiếu Lâm Tự. Sư tổ Bồ Đề Lạt Ma đă thực sự đi vào huyền sử nhân loại để sống măi với sự tôn kính cao cả trong tâm tưởng người đời.

 
1 từ đó xuất hiện Trà Đạo

2 Bodhi Tara

3 vùng cao nguyên Dekkan

4 Prajanatra

5 theo Cao Tăng Truyện

6 tức Thần Quang

7 theo sách Bích Nham Lục

8 con vua Hiếu Minh Đế, Hậu Ngụy

                          Return to main page

 

                                     

                                     

  

 Practicing at a Temple in Vietnam Shaolin kungfu self-defense

   MOVIES>> short movie sword,stick&kata Kata, Stick&Sword          

 

   Martial Arts Studio  Address7243-7245 Corbin Ave, Canoga Park, CA 91306  

                 THANK YOU FOR VISITING TO KIENANDO

  Guestbook     emailed.gif (14893 bytes) 

 

 


 

 

This web site was created by pptwebmaster.com  has been accessed  times since 06/04/01
 Questions, comments. problems regarding this web site will be directed to [kienandokungfu.com].
    Martial Arts  Address 7243-7245 Corbin Ave, Canoga Park, CA 91306
     
Send Email to: emailed.gif (14893 bytes) info@kienandokungfu.com 
  Copyright © 2001 [Kienando]. All rights reserved. 
    Last modified: Sunday September 09, 2007