Tác
dụng chiến
đấu
của 3 thức
này:
Tác
dụng chiến
đấu
của các
thức trong bài
Thái Cực
Quyền 24
thức
1. Khởi
thức (bắt
đầu)
Tác dụng
chiến đấu:
Điều
chỉnh hô
hấp làm cho khí
trầm
đơn điền.
2.
Tả dã mã phân
tung (ngựa
rừng hất
bờm)
Tác dụng
chiến đấu:
Dùng hữu chưởng
thái (kiềm
giữ, nắm)
tay hữu
của địch.
Thừa lúc thân
thủ của
địch rút
về, ta dùng chân
trước
đạp vào chân
trước
của địch.
Sau đó, dùng cánh
tay tả
phạt (liệt)
vào thân địch.
Đây là tác
dụng của
Tả dã mã phân
tung, tác dụng
của Hữu dã
mã phân tung cũng
tương
tự nhưng ngược
bên.
Hữa
dã mã phân tung
Tả dã mã phân
tung
3.
Bạch hạc lượng
xí (hạc
trắng xòe
cánh)
Tác dụng
chiến đấu:
Thức quá độ
là dùng cánh tay
hữu (ở dưới)
niêm dính chỏ
tả của
địch và dùng
tả chưởng
niêm dính cườm
tay tả của
địch.
Nếu tay tả
này của địch
duỗi ngay ra thì
bị ta liệt
gãy, nếu địch
không duỗi ngay
thì ta vẫn niêm
dính chờ địch
biến động.
Nếu địch
xông tới
hoặc dùng
thế kháo đánh
ta bằng vai, thì
ta dùng thế Lý
(xem thế Lý
trong thức
thứ 8
Chuyển thân
hữu lãm tước
vĩ) mà hóa
giái.
Hay khi địch
đã lạc không
(đánh không
được
ta) hoặc rút
về thì ta dùng
thế Tê (xem
thế Tê trong
thức thứ 8
Chuyển thân
hữu lãm tước
vĩ) hoặc Kháo
mà kích địch.
Nếu địch
dùng tay hữu
đánh bào thượng
bộ, đồng
thời dùng chân
hữu đá vào
hạ bộ
của ta thì ta
lập tức dùng
thức Bạch
hạc lượng
xí chia cắt tay
và chân của
địch.
Nếu ta
dụng kình thích
đáng, địch
có thể bị
té cắm đầu.
Bằng không, chân
tả của ta
từ hư
bộ có thể
đá bay vào
hạ bộ
của địch.
Sau
đây là tác
dụng chữa
bệnh của 3
thức trên,
dựa theo:
Tác
dụng phòng và
chữa bệnh
của bài Thái
Cực quyền
giản hóa 24
thức
Nhóm
1: từ thức
1 đến 3
Chủ
trị
Bệnh
về tay bao
gồm cổ
tay,
khủy tay, viêm
họng, phục
hồi lao
phổi, bệnh
về phế
quản và
phổi ở người
già, ho do
nhiễm
khuẩn.
Bài
tập chi
tiết
Nhóm
đầu tiên có
tác dụng phòng
chữa bệnh
phần ngực
trở lên bao
gồm tay (có
cả cổ tay,
khủy tay),
bệnh ở
ngực như viêm
họng, phục
hồi lao
phổi. Các
bệnh về
phế quản và
phổi ở người
già, ho do
nhiễm
khuẩn cũng
có thể điều
trị bởi nhóm
thức này.
Cả ba thức
đều tăng
cường vòng
tuần hoàn
của khí, kích
thích kinh mạch,
làm giãn nở
ngực, lợi
tim.
Tả và hữu
Dã mã phân tung
nối tiếp
nhau rèn luyện
các kinh mạch
ở tay và đả
thông các kinh
mạch bị
bế tắt
ở phần
tay.
Trong thức này,
các chứng
nhữ sổ mũi,
viêm khớp,
cảm mạo thông
thường có
thể giới
hạn hoạt
động
của tay. Chúng
ta phải điều
chỉnh lại
vị trí tay cho
đúng với tư
thế của Dã
mã phân tung.
Bạch hạc lượng
xí làm tăng
dunh tích phổi,
xoa bóp, điều
hòa các cơ quan
nội tạng
trong lồng
ngực.
Chúng ta tập nhóm
kết hợp
thức này
từ 3 đến
5 lần. Khi
muốn điều
trị các
bệnh về
tay thì nâng tay
cao,
kéo dài tay hơn
và để tâm
ý (chú ý) vào hai
tay. Để phòng
chữa các
bệnh về
tim, phổi ta
phải đánh
tay ngang tầm
ngực trong
thức Dã mã phân
tung và để
tâm ý vào
huyệt Đản
trung. Chú ý, sau cùng
ta có thể dùng
thêm thức thu
thế để
kết thúc bài
tập.
hai
đĩa này
dạy chi
tiết bài Thái
Cực quyền
giản lược
24 thức thì ít
nhưng bàn
về phần
chữa bệnh
thì nhiều
lắm. Đa
số là nói
với nói không,
ai muốn mua thì
phải coi
lại.
Tác
dụng phòng và
chữa bệnh
của bài Thái
Cực quyền
giản hóa 24
thức
Nhóm
1: từ thức
1 đến 3
Chủ
trị
Bệnh
về tay bao
gồm cổ
tay,
khủy tay, viêm
họng, phục
hồi lao
phổi, bệnh
về phế
quản và
phổi ở người
già, ho do
nhiễm
khuẩn.
Bài
tập chi
tiết
Nhóm
đầu tiên có
tác dụng phòng
chữa bệnh
phần ngực
trở lên bao
gồm tay (có
cả cổ tay,
khủy tay),
bệnh ở
ngực như viêm
họng, phục
hồi lao
phổi. Các
bệnh về
phế quản và
phổi ở người
già, ho do
nhiễm
khuẩn cũng
có thể điều
trị bởi nhóm
thức này.
Cả ba thức
đều tăng
cường vòng
tuần hoàn
của khí, kích
thích kinh mạch,
làm giãn nở
ngực, lợi
tim.
Tả và hữu
Dã mã phân tung
nối tiếp
nhau rèn luyện
các kinh mạch
ở tay và đả
thông các kinh
mạch bị
bế tắt
ở phần
tay.
Trong thức này,
các chứng
nhữ sổ mũi,
viêm khớp,
cảm mạo thông
thường có
thể giới
hạn hoạt
động
của tay. Chúng
ta phải điều
chỉnh lại
vị trí tay cho
đúng với tư
thế của Dã
mã phân tung.
Bạch hạc lượng
xí làm tăng
dunh tích phổi,
xoa bóp, điều
hòa các cơ quan
nội tạng
trong lồng
ngực.
Chúng ta tập nhóm
kết hợp
thức này
từ 3 đến
5 lần. Khi
muốn điều
trị các
bệnh về
tay thì nâng tay
cao,
kéo dài tay hơn
và để tâm
ý (chú ý) vào hai
tay. Để phòng
chữa các
bệnh về
tim, phổi ta
phải đánh
tay ngang tầm
ngực trong
thức Dã mã phân
tung và để
tâm ý vào
huyệt Đản
trung. Chú ý, sau cùng
ta có thể dùng
thêm thức thu
thế để
kết thúc bài
tập.
Tác
dụng phòng và
chữa bệnh
của bài Thái
Cực Quyền
giản hóa 24
thức
Thức
4 đến 6
Chủ trị
Nhóm thức này
có tác dụng
đối
với các
bệnh về
trao đổi
chất như phù
nề, táo bón, bí
tiểu, hoạt
động quá
mức của
tuyến giáp.
Bài tập chi
tiết
Nhóm thức này
có nhấn
mạnh sự
phối hợp
giữa chi trên và
chi dưới.
Với Lâu
tất ảo
bộ và Thủ
huy tỳ bà, chúng
ta có sự di
chuyển tay
với vòng
lớn. Với
Đảo
niệm hầu,
chúng ta có sự
di chuyển
tới lui
của tay chân.
Do đó, nhóm
thức này có
thể đả
thông kinh mạch
trên và dưới.
Chúng cũng có tác
dụng quan
trọng trong
việc điều
chỉnh cơ
chế thăng và
giáng của khí.
Ta có thể
sử dụng
để
trị các
bệnh về
trao đổi
chất như phù
nề, táo bón, bí
tiểu, hoạt
động quá
mức của
tuyến giáp.
Bệnh phù
nề do tắt
nghẽn sự
trao đổi nước.
Theo quan điểm
Đông y,
bệnh phù
nề là do
sự tắt
nghẽn khí. Khi
nước
được
đưa vào người
sẽ qua hệ
thống lọc.
Nếu bị
tắt nghẽn
sẽ gây
bệnh phù. Còn
tắt nghẽn
xảy ra ở
bọng đái
hay thận thì gây
bệnh bí
tiểu. Bởi
nhóm thức này
có thể đả
thông khí trên vào
duới nên có tác
dụng chữa
các bệnh
về trao đổi
chất.
Để
trị các
chứng phù
nề, bí
tiểu nên chú
ý đến
sự phối
hợp. Còn
trị chứng
táo bón nên để
tâm ý ở
huyện Shenque (Đan
điền?)
(ở gần
rốn), trị
chứng bí
tiểu nên để
tâm ý ở
huyệt Guanyuan
(Cường
trường?) (3
inches dưới
rốn).
Lâu tất
ảo bộ có
thể trị các
bệnh trao đổi
chất như
hoạt động
quá mức
của tuyến
giáp. Sự hô
hấp nên sâu và
dài với Lâu
tất ảo
bộ cả hai
bên. Các động
tác tay di
chuyển
xuống dưới
nên thấp, theo
đó di
chuyển trong các
thức cũng
được kéo
dài, mở
rộng hơn,
trọng tâm
thấp.
Cuối cùng,
mở đầu
ta có thể dùng
Khởi thức,
xong chuyển sang
tả Lâu
tất ảo
bộ, kết thúc
nhớ đừng
quên Thu thế.
Tác
dụng chiến
đấu
của các
thức trong bài
Thái Cực
Quyền 24
thức
4.
Tả lâu
tất ảo
bộ (tay
vuốt gối,
chân linh hoạt)
Tay hoặc chân
hữu của
địch đều
có thể bị
tay tả của
ta dẫn dắt.
Sau đó, ta dùng
tay hữu đánh
địch. Tay
đánh ra
vốn là chưởng
nhưng muốn
dùng quyền
vẫn được,
tùy theo tình
thế.
Hữu
lâu tất
ảo bộ
Tả lâu
tất ảo
bộ
5. Thủ huy
tỳ bà (tay
gảy đàn
tỳ bà)
Ta dùng cườm
tay tả để
niêm dính chỏ
hữu của
địch, còn
chưởng
hữu để
niêm dính cườm
tay cũng bên
hữu của
địch.
Nếu tay
hữu nay
của địch
duỗi ngay thì
sẽ bị ta
liệt gãy.
Nếu tay địch
không duỗi ngay
thì ta vẫn niêm
dính mà chờ
địch
biến động.
Nếu địch
khẽ động
ta có thể dùng
tả chưởng
nắm tay
chỏ hữu này
của địch
đồng
thời dùng
hữu chưởng
mà đánh vào mí
sườn
của địch.
6. Hữu đảo
niệm hầu
(khỉ
khoa tay múa chân)
Khi nào ta bị
địch
kiềm nắm
một cườm
tay (tay tả), thì
dùng tay đó
lật ngữa
chưởng,
đi áp
xuống, theo
bộ mà rút
về làm cho
sức mạnh
kiềm nắm
của địch
theo đó mà
bị mất.
Xong, ta dùng chưởng
còn lại (tay
hữu) thừa
thế mà đánh
ra.
(theo
Series of Taijiquan
for Preventing
Diseases—The Regular
Combination of
Movements)